Thế kỷ thứ 17 -18, cõi Phú Xuân, nhất là mạn nam sông Hương hiện nay, đồi núi còn hoang rậm, thú rừng hoang dữ còn đầy dẫy. Chân đồi còn thoai thoải kéo ra tận dãy đồng ruộng mới được khai hoang bên bờ sông. Cả một vùng rộng lớn từ An Cựu đến ga Huế hiện nay, kéo dài cho đến núi Thiên Thai còn gọi là vùng Lâm Lộc. Tất cả các dảy đồi nằm trong vùng Lâm Lộc như Hàm Long Sơn, Hoàng Long Sơn, Dương Xuân Sơn, Phú Xuân Sơn đều chưa có bóng dáng một ngôi chùa am nào. Mạn bắc sông Hương kinh thành cũng chưa có.

Mãi đến cuối đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1649 – 1697) trong khoảng Quí Hợi (1683)(1). Ngài Tạ Nguyên Thiều từ Hà Trung lên khai sơn Vĩnh Ân Tự – cho đến 1689 thì tên chùa được đổi thành Quốc Ân Tự, tại ấp Phước Quả hiện nay,, lúc đó vùng đồi núi ở niềm nam sông Phú Xuân mới có bóng dáng một am trú thiền thất đầu tiên.
 Tuy nhiên, trong buổi hừng đông Phật Giáo Thuận Hóa, ta thấy sử sách(2) cũng còn ghi, tuy không nhiều, vài ba vị thiền sư từ Trung Quốc xa xăm đến cõi Thuận Hóa cấm trích trượng, khai lập an trú thiền thầt ở các vùng đồi núi phía nam sông Phú Xuân như Giác Phong Lão Tổ, Khắc Huyền Đại Lão Hòa Thượng, Từ Lâm Hòa Thượng… có thể trong buổi hừng đông này thì trên một ngọn đồi trong dảy Hoàng Long Sơn đă có Ngià Minh Hoàng Tử Dung dựng một am trú thiền thất tại đó để hoằng dương phật pháp theo phái thiền Lâm Tế.    Thế nhưng các bộ sách quí đã được biên soạn lập trường biên soạn nho học của Quốc Sử Quán triều Nguyễn như Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển Thừa Thiên phủ đều không ghi chép gì về Ngài Tử Dung. Sách ĐNNTC đã ghi: “Chùa Từ Đàm, ở trên gò ấp Bình An. Tương truyền chùa cho Tử Thông Hòa Thượng dựng, lại có tên Chùa Ấn Tôn(3).
Lời ghi chép quá đơn sơ, lại có phần sai nữa. Tử Dung chứ đâu phải là Tử Thông? Những tấm bia đá như bia dựng ở chùa Chúc Thánh Quảng Nam lại chỉ nói Ngài là “Người Đại Thanh, qua An Nam, trác trích Thuận Hóa, lập chùa Ấn Tôn(4). Bia đá ở tháp Ngài Liễu Quán cũng chỉ viết: “Văn chương phương thiền hòa vân Tử Dung hòa thượng thiện giác chân niệm Phật tham thiền đệ nhất. Nhâm ngọ(1702) vãng Long Sơn tham Tử Dung Hòa Thượng hướng cầu tham thiền(5). Nếu có tra cứu thêm chúng ta cũng chỉ biết thêm được Ngài là người Quảng Đông, đời thứ 34 dòng Lâm Tế.
Tại vườn chùa Báo Quốc hiện nay còn có một nhóm 5 ngọn tháp xây trong một vòng thàưnh vuông. Năm ngọn tháp ấy là “của Từ Đàm”. Tháp chính giữa (A) cao đến Năm tầng và chóp tháp là hoa sen nở ba tầng cánh. Tháp cao 4m10, hình bát giác; cao hơn tất cả bốn tháp chung quanh. Nền tháp cao 0m33, cạnh nền 0m76, mỗi cạnh mặt tháp 0m62. Tầng dưới của tháp cao đến 1m75, mặt chính diện hướng về nam, bên trên có ba chữ Hán hiệu tháp đã mòn không đọc được nữa.. Hai bên mặt trước có hai vế đối : “ Khứ lai như thị vị – không sắc cổ kim đồng”. Bề lõm bia rộng 0m33, bia cao 0m65. Trừ đường hoa văn chạm hoa lá có chữ vạn lõm vào thì bia cao 0m52, rộng 0m18. Trong bia khắc ba dòng chữ. Dòng chính giữa khắc chữ lớn : “Truyền Lâm Tế chánh Tông đệ tam thập tứ thế thượng Tử hạ Dung húy Minh Hoằng Đại Lão Hòa Thượng chi tháp”. Dòng bên trái người đứng nhìn để lạc khoản ở trên : “Thành Thái cửu niên tuế thứ Đinh Dậu chánh nguyệt thập bát nhật các táng”. Dòng bên phải để : “Chư Quan sơn Tự kính phụng lập”. Tính sang Tây lịch là vào ngày 29 tháng 2 nhuận năm 1897. Nguyên lai những tháp náy ở đâu đến? Rất có thể năm ngôi tháp này – trong đó tháp Ngài Minh Hoằng Tử Dung là chính. Ngày xưa ở đâu khoảng trên đường Nam Giao ngang vùng Từ Đàm bây giờ, mà hồi đó còn là vườn chùa Ấn Tôn xưa(6). Bởi vì đời trước con đường này chưa có. Con đường mới được chính phủ Nam Triều mở vào khoảng triều Thành Thái gọi là Nam Giao tân lộ thẳng từ dưới Bến Tượng (bến voi đổ bộ mỗi khi có lễ ở Nam Giao, voi bơi từ kinh thành qua) mà lên cho đến Đàn Nam Giao do một kỹ sủ kiều lộ người Pháp tên là Sali thực hiện từ năm 1878 -1898. Ông L.Cadière đã dịch mấy chữ “Đại Lão Hòa Thượng “ sang tiếng Pháp là “Très Vénérable Upadhiaya” hoặc là “Grandement Vénérable Hòa Thượng” và ông dịch nghĩa chữ Đại Lão là “mort à un âge avancé” tức là viên tịch lúc tuổi quá già(7).
Trở lại vấn đề, chúng tôi có thể tạm nêu kết luận Ngài Minh Hoằng Tử Dung sinh vào năm nào và thọ bao nhiêu tuổi là những vấn đề kho lòng thảo cho tường được. Chỉ biết được Ngaì viên tịch lúc tuổi đã cao cho nên bia ở tháp mmộ mới ghi là “Đại Lão Hòa Thượng”… Ngià đến Thuận Hóa lúc nào? Theo Pháp sư Mật Thể thì Ngài qua Thuận Hóa vào đời chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691) cùng một lần với Hoà Thượng Thạch Liêm để ngồi trên ghế thập sư ở giới đàn tại chùa Thiên Mụ. Đoạn nầy rất cần đến sự hiệu chánh của hậu thế ûchúng ta. Thứ nhất, Ngài Thạch Liêm qua Thuận Hóa vào năm Ất Hợi (1695) đời Nguyễn Phúc Chu(9), chứ không phải qua vào đời Nguyễn Phúc Thái. Thứ hai, đại giới đàn năm Ất Hợi (1695) mở tại chùa Thiền Lâm(10) chứ nhất định không phải là ở chùa Thiên Mụ. Thứ ba, tất cả chư tăng trong đại giới đàn đó đều là người Trung Quốc đệ tử của Ngài Thạch Liêm Hòa thượng chứ không có ai khác(11), cho nên Ngài Tử Dung không tham dự đến giới đàn Ất Hợi này. Vậy thì Ngài qua vào lúc nào? Theo chúng tôi nghĩ chắc Ngài phải qua Nam một lần với Ngài Nguyên Thiều trên chuyến tàu buôn đổ bộ vào Qui Ninh năm 1677 hoặc 1676. Bởi vì hai chứng cứ sau đây: Thứ nhất, là vào thời nầy, có cố đạo bên Thiên Chúa giáo tên là Bénigno Vachet đang giảng đạo vùng Nam Hà. Ông này là một cố đạo có tính hiếu hỳ. một người có óc quan sát và giỏi văn học. Vào một hôm tại nhà vị tướng rễ chúa Nguyễn(12) có một cuộc luận đạo giữa hai bên : Phật giáo và Thiên chúa giáo. Ông cố đạo đã gặp ở nhà vị tướng này đến 30 hoặc 33 vị sư cả người Trung Hoa lẫn người Việt Nam. Tất cả các vị Sư này đều gọi người đứng ra luận đạo với ông cố đạo là ” Sư Phụ”. Ông L. Cadière cho rằng vị Sư Phụ đó chính là Ngài Nguyên Thiều(13). Theo chúng tôi nghĩ, trong 33 vị sư thời đó, tức là vào năm 1676, hẳn đã có Ngài Minh Hoằng Tử Dung. Và đây là bằng chứng thứ hai, tất cả các Ngài dưới thời Ngài Nguyên Thiều đều có chữ ” Minh” như Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Giác Kỳ Phương, Minh Lượng Nguyệt An, Minh Phụng, Minh Lý… Không hẳn tất cả các Ngài này buộc là đệ tử của Ngài Nguyên Thiều mới gọi Ngài là Sư phụ. Chữ Sư phụ dùng đây có thể có nghĩa để chỉ người cầm đầu cả một đoàn truyền giáo ra hải ngoại. Vẫn theo tập hồi ký của ông cố đạo Bénigno Vachet(14) thì vào khoảng thế kỷ thứ 17 – 18, các chúa Nguyễn Nam Hà thường mời các vị sư Trung Hoa sang để ” Tổ chức các lễ lược về hình thức”. Song văn bia ở chùa Quốc Ân thì cho là Ngài Nguyên Thiều không sang Nam Hà vì lời mời của chúa Nguyễn mà Ngài đến đây vì sinh hoạt riêng của Ngài(15). cũng vào thời các chúa Nguyễn, nhất là vào giai đoạn cuối thế kỷ thưú 17, ngoài Quảng Nam thì phủ Bình Khang, sau đổi thành Bình Hòa rồi thì Ninh Hòa, cũng là nơi người Quảng Đông thường qua buôn bán và lập nghiệp. Đi theo các thương thuyền ấy, thường có các vị thiền sư dừng chân ở vùng này. Trong số đó, người ta còn truyền rằng có hai vị thiền sư là Ngài Minh Phụng đến lập thảo am ở ngọn đồi Hòn Sấm ; còn thiền sư Minh Lương Nguyệt An thì đến dựng am trú thiền thất ở ngọn đồi Phong Ấp để tu thiền và về sau trở thành chùa Bảo Phong ở Ninh Hòa. Sự kiện này xảy ra khoảng 1680 – 1719(16).
Thiền Lâm về sau được đổi tên là Thiền Lâm Viện, đã có một vùng đất rộng lớn. Từ trước mặt chùa Từ Đàm hiện nay mà lên đến Đàn Nam Giao Kể luôn cả Nam Giao tân lộ hồi đó Nếu sự kiện này đúng thì ta có thể nói rằng tất cả các Ngài có chữ Minh đi theo Ngài Nguyên Thiều qua Nam đã có mục đích rõ ràng : Truyền phái Lâm Tế sang nước ngoài khi tình trạng chính trị cuối Minh đầu Thanh ở Trung Quốc tỏ ra bất lợi cho việc hoằng giáo Phật pháp. Và có lẽ các Ngài đã ở chùa Thập Tháp Bình Định trong khỏang 5, 6 năm, rồi mới có sự ra đi hoằng dương Lâm Tế phái rộng rãi khắp Nam Hà.
Khi hai Ngài trên đi vào Nam thì ta còn thấy có Ngài Minh Vật Nhất Trí đến lập thảo am sau thành chùa Đại Giác Biên Hòa. Ngài Minh Lý ở lại chùa Thập Tháp Bình Định. Ngài Minh Hải ra lập chùa Chúc Thánh ở Quảng Nam. Chính Ngài Nguyên Thiều rời Thập Tháp ra khai sơn chùa Hà Trung; rồi sau đó lên khai sơn chùa Vĩnh Ân và để Ngài Minh Giác Kỳ Phương ở lại đây khi Ngài quay về chùa Hà Trung. Còn Ngài Minh Hoằng Tử Dung kiến lập am trú thiền thất trên ngọn đồi Hoàng Long Sơn, để về sau trở thành Ấn Tôn Tự tại Thuận Hóa, chứ không phải như thuyết Ngài Mật Thể đã nêu trong VNPGSL cách đây 50 năm.
Và nếu thế, thì Ngài Minh Hoằng Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tôn vào năm nào? Theo bức hoành còn treo ở chùa Từ Đàm thì ba chữ Ấn Tôn Tự có lạc khoản để năm Quí Vị đời Lê Hy Tôn, tính qua Tây lịch là năm 1703. Chúng ta có thể căn cứ vào lạc khoản biển hiệu chùa này để bảo rằng chùa này được khai sơn vào năm Quí Vị (1703) ấy được không ? Chúng tôi nghĩ rằng e không đúng nếu người ta cho như thế. Bởi vì câu văn của người Trung Hoa là Thiện Kế viết bia Ngài Liễu Quán vào tháng tư năm Cảnh Hưng thứ 9 (1742) đã nói: “Nhâm Ngọ (1702) vãng Long Sơn tham Hòa Thượng hướng cầu tham thiền”. Nếu chùa được khai sơn vào năm 1703 thì làm sao năm 1702 Ngài Liễu Quán lại có thể đến tham thiền được ? Và cho đến năm 1702 nầy thì “khắp rừng thiền chỉ có Ngài Tử Dung Hòa Thượng dạy người niệm Phật tham thiền vào bậc nhất”; như thế rõ ràng vào lúc trước đó, có thể đã rất lâu, Tử Dung Hòa Thượng đã khai sơn, ít ra nữa là một Am Trú Thiền Thất tại đồi Hoàng Long Sơn nầy rồi. Có thể ngay một lúc cùng với Ngài Nguyên Thiều khai sơn Vĩnh Ân Tự, tưc là vào khoảng 1683; hoặc có chậm hơn thì cũng vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái (1687 – 1691) chứ không thể chậm hơn nữa, có như thế thì trước năm 1699 , Ngài Liễu Quán mới nghe danh Ngài Minh Hoằng truyền pháp rừng thiền Thuận Hóa được. Nhưng vì sao Ngài Minh Hoằng Tử Dung lại không được các triều Nguyễn nhắc nhở đến. Để giải đáp câu hỏi đó, có lẽ chúng ta phải để ý đến hai chữ Ấn Tôn. Ấn Tôn chinh là lấy việc ấn khả tứ lấy tâm truyền tâm làm tôn chỉ, đó chính là tôn chỉ của Lâm Tế chánh tông. Tông Lâm Tế không hề có hình thức bên ngoài để đáp ứng yêu cầu chính trị của thời đó, và Ngài hay tất cả các Ngài trong Lâm Tế Tông – cũng chỉ “Huyền Hiêu Chỉ Tuyệt” trong rừng vắng. Lúc nầy thì Ngài Giác Phong Lão Tổ cũng đã khai sơn Am trú thiền thất Hàm Long, về sau thành chùa Báo Quốc; Ngài Khắc Huyến đã khai sơn thảo am để về sau thành Thiền Lâm Viện; và Ngài Từ Lâm cũng đã dựng am trú thiền thất tại đồi Từ Lâm…. Tất cả các Ngài này đều không được chúa Nguyễn Phúc Thái (1687-1691) Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) mời để lập đàn truyền giới, mà lại sang tận Trung Hoa mời cho được Thạch Liêm Hòa Thượng, vấn đề cóp nhiều chi tiết cần được bàm kỷ ở một bài khác. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói rằng cùng với các Ngài Giác Phong, Ngài Nguyên Thiều, Ngài Khắc Huyền, Ngài Từ Lâm… thì có thể Ngài Minh Hoằng – Tử Dung đã có Am trú thiền thất Ấn Tôn tại núi Hoàng Long Sơn trong khoảng từ năm 1683 cho đến trước năm 1695 là năm Ngài Thạch Liêm và chúa Nguyễn Phúc Chu khai đại giới đàn tại chùa Thiền Lâm chứ không phải đợi đến năm Quí Vị 1703 mới có Ấn Tôn Tự.
Có lẽ chúng ta phải trở lui về với quá khứ để nhớ lại rằng vào thế kỷ thứ 17-18 vùng nầy còn rất hoang vắng. Chùa Thiền Lâm lúc đó cũng chỉ là “Một ngôi đền ở trong rừng tre, phải đi quanh qua hai ba lớp núi mới đến”(17). Và theo sự khảo cứu kỷ càng của ông Lê Nguyễn Lưu thì chùa Thiền Lâm về sau được đổi tên là Thiền Lâm Viện, đã có một vùng đất rộng lớn. Từ mặt trước chùa Từ Đàm hiện nay mà lên cho đến Đàn Nam Giao kể luôn cả Nam Giao tân lộ hồi đó cũng chỉ là con đường mòn lối nhỏ lên núi xuống đồi(18). Như vậy, Thiền Thất Ấn Tôn của Minh Hoằng – Tử Dung đã có trên đồi Hoàng Long Sơn có thể là ngôi thiền thất nhỏ, song ở trong một môi trường thiên nhiên núi đồi còn hoang dã và rất rộng. Từ chùa Báo Quốc chạy dọc theo sông An Cựu qua cho đến chùa Phổ Quang, rồi kéo lên cho tới trước chùa Từ Đàm hiện nay giáp với Thiền Lâm Viện, bên phải giáp luôn với đồi Hàm Long Sơn, Nam Giao tân lộ thuộc hẳn địa phận vườn thảo am Ấn Tôn xưa…
Có người sẽ hỏi : Nếu am trú thiền thất của Ngài Minh Hoằng – Tử Dung đã có trong khoảng 1683 cho đến 1895 thì tại sao Ngài Liễu Quán từ Phú Xuân về Thuận Đô đầu tiên lại đến học với Giác Phong Lão Tổ, rồi đến thọ Sa-Di giới với Ngài Thạch Liêm (1695). Sau lại, lên Từ Lâm để thọ cụ túc giới (1697) với Ngài Từ Lâm; rồi, cuối cùng mới gặp Tử Dung Hòa Thượng(19)? Xin thưa, điều này dễ hiểu. Bởi vì, như chúng tôi đã nói, Ngài Minh Hoằng thuộc phái Lâm Tế, mà yếu chỉ của phái Lâm Tế là “Đốn Ngộ” (tiếng Nhật : satori) với công án thiền, không phải chú ý lắm về giới luật; với lại căn cơ cuả Ngài Liễu Quán không phải tự nhiên mà đến với thiền như Ngài Huệ Năng đến với Ngài Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đời xưa được; cho nên cứ từng bước dò tìm, đó là điều tất yếu. Chúng tôi nói rằng an trú thiền thất Ấn Tôn của Ngài Minh Hoằng Tử Dung đã có trong giai đoạn từ 1683 cho đến trước 1695 lại cũng bởi lý do vào năm kỷ Mão (1699) thì Ngài Liễu Quán đã đi khắp Thuận Hóa, chịu biết bao khó khăn, ăn uống đạm bạc với lời nguyện: Hà pháp tối vi đệ nhất, ngã quyết xả thân mạng, y pháp tu hành”(20) để tìm cho được vị minh sư về thiền. Ngài đã nghe được Minh Hoằng Tử Dung Hòa Thượng là người dạy tham thiền nổi tiếng. Nếu chùa chỉ được khai sơn vào năm 1703 thì làm sao từ trước năm 1699 lại có được những dữ kiện lịch sử nầy? cho nên năm 1703 chỉ có thể là niên đại mở rộng an trú thiền thất thành ngôi chùa đàng hoàng rộng lớn và tạo biển chùa rõ ràng hơn mà thôi.. Vẩn theo bia Ngài Liễu Quán thì Ngài Minh Hoằng Tử Dung là một vị thiền sư rất danh tiếng ở cõi Thuận Hoá vào đời chúa Nguyễn Minh Vương (1791-1725). Trong bia đá ấy có một câu mà chúng tôi cho là rất quan trọng khi nói về tuổi tác và đạo phong của Ngài Minh Hoằng Tử Dung. Câu ấy thế này: “Nhâm Thìn hạ (1712), Hòa Thượng lai quảng tấn toàn viện”(21). Chúng tôi nghĩ năm đó có lẽ là lễ an cư kiết hạ được tổ chức rất qui mô ở Thiền Lâm Thiền Viện, có thể bao gồm cả chư Tăng ở Thuận Hóa – Quảng Nam vân tập về đây và toàn viện đã cung thỉnh Ngài Minh Hoằng Tử Dung Làm Thiền Chủ; mấy chữ “lai quảng tấn toàn viện” là Ngài đã từ chùa Ấn Tôn đi đến Thiền Lâm Viện ở gần đó để coi sóc, nhắc nhở, khuyến khích chư Tăng tất cả mọi công việc để khai lễ cho chư tăng kiết hạ. Chính trong kỳ an cư này, Ngài Liễu Qúan đã trình kệ “Dục Phật” và được Ngài Minh Hoằng Tử Dung ấn khả… Về sau, Ngài Liễu Quán đã trở thành tổ Thật Diệu Liễu Quán khai phái Thiền Lâm Tế Tử Dung – Liễu Quán rộng lớn suốt cả Nam Hà. Điều này nói lên được yếu chỉ của thiền Lâm Tế. Người theo học có thể rất đông; nhưng chỉ một vị duy nhất được ấn khả và vị ấy về sau tất làm cho Đạo Pháp tăng huy. Cho nên Thiền Lâm Tế Liễu Quán chính là Thiền Minh Hoằng Tử Dung vậy. Cũng vì đó, ngoài Ngài Thật Diệu Liễu Quán thì tại Từ Đàm hiện nay thì còn thờ long vị Ngài Thật Vinh Bảo Hành, và tháp Ngài còn ở trong nhóm tháp tại vườn chùa Báo Quốc với câu văn bia: “Sắc Tứ Viên Tịnh Bửu Lão Hòa Thượng chi tháp”. Tháp số (B) nằm phía phải tháp Ngài Minh Hoằng Tử Dung, nhưng không hề nghe nhắc tới Ngài Thật Vinh này (21b), chúng tôi chắc đệ tử của Ngài Minh Hoằng phải là rất nhiều, song chỉ có Ngài Thật Diệu Liễu Quán là người đệ tử duy nhất đắc pháp và trở thành vị tổ đã xiển dương được yếu chỉ Thiền Lâm Tế của Bổn Sư mình là Sơ Tổ Minh Hoằng Tử Dung. Năm đó chính là năm Nhâm Thìn (1712). Sau năm nầy thì không có sử liệu nào ghi chép để có thể cho ta biết Ngài Minh Hoằng Tử Dung hoằng giáo như thế nào nữa và viên tịch vào lúc nào. Nhưng trong các sách về thiền Trung Hoa, chúng ta thường thấy khi một vị Tổ đã ấn khả cho một vị Tổ kế tục pháp phái của mình thì xem như là công trình hoằng pháp của mình đã trọn vẹn, chỉ mấy năm sau là vị Tổ viên tịch. Ở đây ta có thể nói: Vào mùa Hạ Nhâm Thìn (1712) này, y bát(22) của Ngài Minh Hoằng Tử Dung – tức là yếu chỉ tâm tông của Thiền Lâm Tế – Ở Ấn Tôn Tự đã đi về núi Thiên Thai rồi(23). Cho nên, có thể sau đó mấy năm thì Ngài viên tịch. Tháp mộ xây ở phía Tây vườn chùa. Mãi đến năm Thành Thái thứ 9 (1897), vì Nam Triều mở Nam Giao tân lộ qua vườn chùa Ấn Tôn, nên ngôi Tháp Của Ngài đã được chư Quan sơn và đồng môn thiên di vào vườn chùa Báo Quốc mà chúng tôi đã mô tả.
Cách kiến trúc chùa Ấn Tôn vào thời này như thế nào? Hiện nay chúng ta cũng khó lòng khảo cho rõ được. Song dùng phương pháp gián tiếp thì có lẽ chúng ta cũng biết được sơ lược cách kiến trúc như thế nào. Vào năm 1917, khi viết về chùa Báo Quốc, ông J.A. Laberde trong BAVH(24) có mô tả ngôi chùa này; Chỉ là một ngôi nhà mà trên nóc không có rồng phượng gì, các góc không có cù giao, không có tiền đường. Mái trước chỉ kéo dài xuống một phần trước cửa chính, có nhiều cột đỡ phần kéo dài ấy và trên các cột đều có vế câu đối. Nói chung, mọi kiến trúc nhà thờ Họ và đình Giáp ở các làng xã vào thế kỷ trước đều được kiến trúc như thế. Hẳn là ngôi chùa Ấn Tôn cũng chỉ có một ngôi nhà, nóc không có rồng phượng, góc mái không có cù giao. Phần trước chắc cũng có kéo ra một phần chứ không có Tiền đường gì. Chúng tôi phát họa như thế không phải là vỏ đoán mà dựa trên nguyên tắc là mỗi thời đại có một phong cách kiến trúc chung trong xã hội. Nằm trong viễn tượng bối cảnh chung, Ấn Tôn Tự thời xưa chắc cũng vậy thôi.
Mãi đến khi quân Trịnh vào chiếm thành Phú Xuân (1775 – 1786), và nhất là dưới thời Tây Sơn (1786 – 1801) thì toàn bộ Thuận Hóa đều lâm vào tình trạng suy đồi và hoại nát. Một Giáo sĩ Thiên Chúa giáo đang ở Thuận Hóa lúc đó là ông Barrette, đã viết vào ngày 23 – 6 – 1786, chỉ cách vài ngày sau khi Nguyễn Huệ đến: “Những quân nỗi loạn (Síc) đã phá hủy tất cả những nhà thờ đẹp nhất của chúng ta ở đây. Họ đã phá hủy tất cả mọi ngôi chùa và bắt buộc tất cả mọi nhà sư phải mang vũ khí và ra trận”(25). Một Giáo sĩ khác, cũng trong vùng Thuận Hóa, đã viết và ngày 8 – 7 – 1787: “Người ta đã phá hủy các chùa và lấy hết các tượng để đúc súng lớn và làm chảo nấu ăn”(25). Vào thời này, tất cả các chùa quanh vùng Huế đều bị triệt hạ đến sát đất. Chùa Báo Quốc bị lấy để chứa diêm tiêu làm công binh xưởng cho quân Tây Sơn; chùa Kim Tiên làm chỗ cho mẹ con bà Ngọc Hân công chúa; Thiền Lâm Viện bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên chiếm làm chỗ ở(26). Chùa Viên Giác do Hòa Thượng Liễu Quán khai sơn nằm trong vùng có chùa Vạn Phước hiện nay cũng bị phá mất cả dấu tích lẫn đất đai. Chùa Quốc Ân bị phá sập, tháp Phổ Đồng bị ï hủy hoại đến mất dấu. Như thế, chùa Ấn Tôn không khỏi nằm trong hoàn cảnh chung ấy. Phương chi Ấn Tôn Tự lại nằm gần Thiền Lâm Viện. Chiếm cả một vùng rất rộng lớn toàn thể núi đồi mạn nam sông Phú Xuân, vừa làm phủ liêu, vừa làm công sở, vừa cho quân đóng, chắc chắn Bùi Đắc Tuyên không chừa ân huệ nào cho Ấn Tôn Tự. Bởi đó mà chùa Ấn Tôn do Ngài Minh Hoằng Tử Dung khai sơn, vào giai đoạn này gần như mất hết dấu tích, chỉ còn vài tên, tấm biển hiệu của chùa, mấy Long vị mà chắc chúng tôi cũng không còn đủ.
Tình trạng chùa chiền bị phá hoại đỗ nát và chư Tăng bị sung vào quân lính tán loạn như thế kéo dài, mãi cho đến khoảng đầu đời Gia Long. Ngay Gia Long năm đầu (1802) chùa Quốc Ân được Mật Hoằng Hòa Thượng làm lại, chùa chiền rộng rãi. Chùa Thiền Lâm được Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu bỏ tiền ra tùng tu. Vào năm Gia Long thứ VII (1808), Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu ra lệnh làm lại ngôi chùa Báo Quốc và vua Gia Long đổi tên lại là Thiên Thọ Tự. Trong bối cảnh như vậy, chùa Từ Lâm cũng được Ngài Đạo Thành trùng hưng, và Ngài Đạo Trung đứng ra trùng hưng chùa Ấn Tôn. Ở chùa Từ Đàm còn có một Long vị ghi: “Sắc tứ Thiên Mụ Tự trú trì trùng hưng Từ Đàm đường thượng tam thập bát Đại Trọng Nghĩa Đạo Trung Thụy Viên Minh Lão Hòa Thượng.” Tháp Ngài Trọng Nghĩa Đạo Trung hiện vẫn còn trong nhóm năm ngôi tháp ở vườn chùa Báo Quốc: Tháp số (c) nằm phía trái tháp Ngài Minh Hoằng Tử Dung, văn bia đề: Thiên Mụ trú trì Đạo Trung Nghĩa Hòa Thượng chi tháp”(27). Về mặt sử liệu, Long vị này chắc là làm về sau nên có phần không đúng vì danh từ “Từ Đàm Tự” thì mãi đến thời Thiệu Trị nguyên niên tức là năm Tân Sửu (1841) mới có. Song Ngài Đạo Trung thì ngang hàng với các Ngài có chữ “Đạo” đều sống vào đời Gia Long, trong khi các ngài ở hàng chữ “Đại” có lẻ bị vướng vào vụ Tây Sơn bắt lính nên rất hiếm mà Ấn Tôn cũng khuyết ngài có chữ “Đại” này. Chùa hiện còn một quả chuông đồng nặng được 416 cân có có khắc hàng chữ “Gia Long tuế thứ Quý Dậu niên mạnh hạ nhị thập tam nhật mùi thời chú” tức là chuông đúc vào sau buổi trưa – từ một đến ba giờ chiều hiện nay – ngày 23 – 4 năm Quý Dậu, đời Gia Long. Tại chuông cũng có khắc hàng chữ nói là có Ngài Đạo Trung chứng minh, thì rõ ràng vào đời Gia Long chùa Ấn Tôn có sự trùng hưng vào năm Quý Dậu, ứng với Tây lịch là năm 1813.
Tại nhà tổ chùa Từ Đàm hiện nay còn có một Long vị đề: Lâm Tế đệ tam thập lục thế tự Cảnh Huống húy thượng Tế hạ Ngữ, thụy Chánh Dõøng Đại Sư.; tháp Ngài cũng nằm trong nhóm 5 tháp của chùa Từ đàm ở bên cửa vào thành (Đ) mà vào năm 1928, một giáo sĩ thiên chúa giáo dòng Thừa sai Paris là ông Le Cadière(28) nghiên cứu còn đọc được dòng chữ trong lòng bia đá là “Lâm Tế đệ tam thập lục thế tự Cảnh Huống húy Tế Ngữ Chánh Dõøng Đại Sư chi tháp”; nhưng hiện nay thì bia lại bị đục xén mất mấy chữ và chỉ còn mấy chữ trên là “Lâm Tế tam thập lục… và mấy chữ dưới là Đại Sư chi tháp”. Ông L. Cadière cho rằng Ngài này thuộc về chùa Từ Lâm(29). Như thế phải chăng lúc Trịnh vào Thuận Hóa thì Ngài đã trú trì cả hai nơi : Từ Lâm và Ấn Tôn ? Và Ngài là đệ tử của Ngài Thật Vinh tại Ấn Tôn lên cai quản để khai kiến Từ Lâm Tự ở trên gần đàn Nam Giao hiện nay, hay Ngài là đệ tử của Ngài Thật Diệu Liễu Quán đến khai kiến Từ Lâm Tự rồi kiêm quản luôn cả Ấn Tôn Tự trong thời gian cuộc hưng phế còn đang tiếp diễn trên đồi Long Sơn? Lại có một Long Vị đề: “Lâm Tế chánh tôn tứ thập nhất thế trùng hưng Từ Đàm Tự húy Thanh Hiệp hiệu Tường Vân Đại Sư”. Theo long vị này thì vào khoảng đời Thành Thái – Duy Tân chùa Từ Đàm còn đang được trùng hưng lần cuối trước khi chuyển qua giai đoạn mới.
Như trên chúng tôi đã nói, đến thời Thiệu Trị Nguyên Niên (1841), có lẽ vì kỵ húy trong hoàng gia, tên Ấn Tôn Tự được vua sắc chỉ đổi thành Từ Đàm Tự. Thiệu Trị là một ông Vua tuy không tin Phật giáo lắm, song đã có nhiều công quả đối với Phật Giáo Thuận Hóa như xây tháp Phước Duyên và trùng hưng chùa Thiên Mụ, ngôi chùa có cảnh núi sông rất đẹp và mọi người đều phải trân trọng; xây dựng chùa Diệu Đế và lưu ý đến nhiêu chùa chiền ở Huế.
Tuy nhiên, sau khi vua Thiệu Trị mất (1841 – 1847), vua Tự Đức lên ngôi thì từ đó kéo dài cho đến đời Bảo Đại, không hề thấy sách vỡ nào ghi chép nói về chùa Từ Đàm. Bao nhiêu lễ lược, tuy thuộc về nhà chùa và Tăng giới, song triều đình chủ trương và chỉ để ý đến các ngôi chùa Quan, thuộc triều đình; nhất là chùa Thiên Mụ và chùa Diệu Đế. Chùa Từ Đàm trong giai đoạn này hầu như chìm hẳn vào quên lảng. Các bộ sách như Đại Nam Nhất Thống Chí in dưới Triều Duy Tân năm thứ ba (1910) tuy rất giá trị, nhưng chỉ nói đến chùa Từ Đàm một cách rất hờ hững mà chúng tôi đã viện dẫn ở trên. Và, tuy đã nói nhiều lần ở trên, ở đây chúng tôi cũng xin được nhắc lại: trong đời Thành Thái năm thứ 9 (1898) Nam triều cho mở Nam Giao tân lộ từ Bến Tượng mà lên cho đến Đàn Nam Giao hiện nay thì chùa Từ Đàm phải mất một số lớn đất đai và phải thiên di nhiều mộ tháp kể cả tháp Ngài khai sơn là MINH HOĂNG TỬ DUNG vào nơi gần nhất là vườn chùa Báo Quốc.
Ngày xưa, khi Ngài Minh Hoằng Tử Dung khai sơn thì chùa Ấn Tôn còn nằm trong địa phận xã An Cựu, tổng Vĩ Dạ, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa. Về sau, mỗi triều vua đều có thay đổi và hiện nay thì vị trí chùa Từ Đàm còn lại rất hẹp. Diện tích chỉ còn hơn một mẫu rưỡi ta, tọa lạc trên đồi cao thuộc địa phận làng Bình An, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế (xin tham chiếu bản đồ in kèm theo bản đồ nầy). Chùa hướng mặt về đông nam, nhìn rất xa có hòn Kim Phụng cao ngất tầng mây, làm tiền án; phía tây là Nam Giao tân lộ(29), phía đông giáp Nam Giao cựu lộ(30), phía bắc và nam giáp hai xóm Trường Giang và Trường Cỡi thuộc làng Phú Xuân. Xung quanh chùa đều có xây thành. Chùa Từ Đàm tọa lạc ở một vị trí rất đặc biệt. Về phía phải của Nam Giao tân lộ – kể từ dưới Huế lên – đầu tiên ta gặp chùa Báo Quốc, bên trái có chùa Thiên Minh nằm ngay sau lưng chùa Từ Đàm, lên nữa thì về phía tay phải có chùa Vạn Phước, trong xa thì có chùa Cát Tường của Ngài Liễu Quán ngày xưa, chùa Huệ Lâm nay đã mất dấu tích, rồi đến chùa Thiền Lâm, vào một đoạn có chùa Diệu Đức, chùa Kim Tiên, lên xa có chùa Tường Vân, chùa Quảng Tế, chùa Từ Lâm. Trước mặt Từ Đàm có vùng đất của Thiền Lâm Viện ngày xưa. Bên kia là Nam Giao cựu lộ(30) thì phía trái có chùa Phổ Quang, lên đến chùa Linh Quang, đặc biệt là có đền thờ Phan Bội Châu, chùa Hải Đức và nhiều chùa khác nữa.
Môi trường thiên nhiên của vùng Long Sơn xa xưa đã tạo cả một vùng rất nhiều chùa chiền làm cho Từ Đàm thành nơi trung tâm của vùng đất đồi núi có rất nhiều chùa này vậy ./.
PHẦN CHÚ THÍCH
1 . La Cadière, La Pagoda Quốc Ân : Le fondteur, B.A.V.H. 1914, trang 154.
2 . Như Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn.
3 .Quốc Sử Quán Đ.N.N.T.C. Tập I, quyển 2, phủ Thừa Thiên, mục chùa quán, trang 180, nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội, năm 1969.
4 . Thích Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, bản Minh Đức Đà Nẳng , trang 194 – 1960.
5 . Nguyên văn ở bia tháp Ngài Liễu Quán, núi Thiên Thai.
6 . Chúng tôi nghi rằng bia cổ chắc có khắc lạc khoản gần sau khi Ngài viên tịch.
7 . L. Cadière, Tombeau Annamites dans lesenvirons de Huế, B.A.V.H.1928 tr 22,27, 40, 16a.
8 . Thích Mật Thể, sđ d ,9 trang kể từ trang 186 đến 194.
9 . Thích Đại Sán, Hải Ngoại Ký Sự, UB phiên dịch sử liệu Việt Nam, Viên Đại Học Huế -1963, qI , tr.19.
10. Thích Đại Sán, sđd. tr.83 ; ” thấy những người chấp saự đều là ngững Tăng nhon người Trung Quốc, đều là tùy trượng của ta” (lời của Ngài Thạch Liêm).
11. Thích Đại Sán, sđd, qII, trang 73 cho đến 74.
12. Không biết là ở tư dinh của cai cơ Tráng hay tư dinh của cai cơ Đức.
13. L. Cadière, Sđd, B.A.V.H. 1914 tr 153.
14 . L. Cadière, Mémoire de Bénigne Vachet sar la cochinde, dans Bullentin de la commíion Archesologique l’ Indochine, tr44, phụ trương.
15 . L. Cadiere, Sđd, B.A.V.H. 1914 tr.150.
16 . Hải Nhiêu, chùa Bảo Phong trong báo Giác Ngộ số 18 cột 1-2 ngày 15 -9 -1991.
17 . Thích Đại Sán, Sđd, tr 35.
18 . Lê Nguyễn Lưu, Lược khảo về chùa Thuyền Lâm, bản đánh máy 1991, tác giả cho mượn.
19 . Theo lời thuật trong chính văn bia của Ngài Liễu Quán.
20. Theo văn bia nói trên, tham khảo thêm Thích Mật Thể, s đd. tr 199.
21. Thích Mật Thể, Sđd, trang 202 viết : ” Năm Nhâm Thìn (1712) mùa hạ, Hòa Thượng vào Quảng Nam dự lễ Toàn Viện (?), có lẽ pháp sư Mật Thể đã theo bản Pháp Văn của L.Sogny trong bài Le premier Annamite; đăng trong B.A.V.H. supé rieur de bonzerie par les Nguyễn – Son tombeau; đăng trong B.A.V.H , SỐ 3, 1928. Chúng tôi đã thỉnh ý các Hòa Thượng Từ Đàm, Hòa Thượng Hiếu Quang, các Ngài đều bác bỏ đều này và cho hiểu thế là quá sai.
21b. Theo Chánh Pháp Nhãn Tạng của ngài Tế Cảm tự Thiện Ứng, hiệu Linh Phù do Ngài Thật Vinh Bảo Hành cấp vào mùa hạ năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748). Lưu tại chùa Phụng Thuỳ Sơn Khánh Hoà.
22 . Chử ‘ y bát ‘ chúng tôi dùng ở đây chỉ có nghĩa tượng trưng là thiền Tử Dung chứ không phải là y bát thật
23 . Có lẽ chúng ta nên lưu ý đến sự liên lạc ý nghĩa giữa Ấn Tôn Tự va Thuyền Tôn Tự.
24 . J.A.Laborde; La Báo Quốc pagoda,B.A.V.H. 1917, tranh vẽ ở trang 241.
25. L. Cadière, documents relatì s à l’ époque de Gia Long in B.E.F.E. 1912 t. XII, No-7 trang 14 và trang 20, ghi chú số 5. Chính L. Cadiere dẫn lại trong B.A.V.H., bài La Pagoda Quốc Ân : Lé divers supérieurs, 1915, tr. 306.
26 . Thích Đại Sán, Sđd. phần khảo cứu trang 275 lời chú số 6.
27 . L. Cadière, sđd, B.A.V.H. 1928 trang 42 -43. nguyên văn : “Ce bonze appartenait à la pagode Từ lâm.”
28 . L.Cadière, sđd , B.A.V.H., tr 41 -42 , số 16c .
29 . Tưc là đường Điện Biên Phủ hiện nay .
30. Tức là đường Phan Bội Châu hiện nay.