Ngay cả Nguyễn Du cũng chỉ thốt ra: “Tu là cỗi phúc”. Ông nói “cỗi phúc”; ông đâu có nói “hạnh phúc”? Hai khái niệm không giống nhau! Hình như chữ “hạnh” mới thêm vào sau này ở Tàu chỉ là động từ, có nghĩa là mưu cầu, cầu mong, cầu cho được phúc. Phúc là ý chính, ý từ xưa, không thay đổi.

Nhưng Tàu thêm chữ “hạnh” vào lúc nào? Mù tịt điểm này, tôi lý luận: hay là ta thử xem tình hình ngôn ngữ ở bên Nhật? Nếu Việt Nam ta không có, Nhật cũng không, thì chắc là Tàu cũng không. Dò hỏi bạn bè bên Nhật, hay thật, quả là như vậy, trước đây Nhật cũng không có từ “hạnh phúc”. Cũng như ta, Tàu dạy họ chữ “phúc” thôi. Nhưng Nhật vấp văn hóa Tây phương trước Tàu, họ vấp chữ “happiness”, không dịch được. Cho nên họ sáng tác, như đã sáng tác bao nhiêu từ mới, và do đó từ ghép “hạnh phúc” thoát thai với nghĩa như ta dùng ngày nay. Rồi cũng như rất nhiều từ mới khác ra đời tại Nhật hồi thế kỷ 19, “hạnh phúc” được Tàu nhập khẩu, rồi từ Tàu tái xuất qua ta. Ta khỏi mất công sáng tác, y chang sao chụp, như đã sao chụp bao nhiêu thứ khác với tất cả tài ba.
Tôi rất vui được mở đầu năm mới Tân Mão bằng một buổi nói chuyện về hạnh phúc với các anh chị văn nghệ sĩ ở Huế. Chân thành cảm tạ Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế và Trung tâm Văn hóa Liễu Quán đã cho tôi cái hân hạnh đặc biệt này.

Hạnh phúc… Chắc các anh chị không khỏi phản ứng khi đọc cái nhan đề này của buổi nói chuyện này. Hạnh phúc trong thơ? Thơ gì? Thơ nào? Thơ của ai? Vâng, tôi cố ý mông lung như vậy, bởi vì, quả thật, hạnh phúc là một cái gì quá mông lung, tôi biết tôi đang đi vào một thế giới mông lung, không phương hướng. Hạnh phúc? Đố ai định nghĩa được chính xác là gì. Trăm người, trăm ý. Hỏi thơ, thơ lại càng bí, vì thơ là để nói lên cảm xúc, mà vui buồn thì có trăm dạng khác nhau, đâu có phải vui nào cũng đồng nghĩa với hạnh phúc? Thậm chí, có người cho rằng khi con mèo hành hạ con chuột, giả bộ lim dim mắt để chuột chạy rồi bắt lại, ấy là lúc nó khoái trá lắm, sướng lắm, nghĩa là hạnh phúc lắm. Thế thì Hoạn Thư hạnh phúc vô cùng khi hành hạ Kiều chăng? Cái mỹ từ bình dân để nói lên cái khoái trá ấy là “đã”. “Đã quá!” Thế thì “đã” cũng là một trạng thái của hạnh phúc sao?

Ý tứ mông lung trong đầu tôi lại càng sương mù hơn nữa vì chính cái từ kép “hạnh phúc”. Thế nào là “hạnh”, thế nào là “phúc”? Nghĩa của “phúc” khá rõ, nhưng “hạnh” là gì? Không biết rõ là gì, sao ghép “hạnh” vào “phúc”? Mà từ bao giờ ngôn ngữ của ta cặp đôi hai từ đó với nhau? Từ bao giờ, miệng Việt Nam và chữ Việt Nam thốt lên cái từ kép “hạnh phúc”? Giá như tôi làm ông cụ đồ nghiên cứu, chắc tôi sẽ hí hửng lật từng trang văn học cổ để xem cái từ kép ấy xuất hiện lần đầu lúc nào, ở đâu, trong áng văn nào. Bởi vì tôi nghi rằng cái từ kép ấy chỉ mới xuất hiện gần đây thôi. Đọc thơ cổ, tôi không thấy. Hoặc là tôi dốt, chưa biết đến nơi đến chốn. Hoặc là… không chừng nghi vấn tào lao của tôi có cơ sở chăng, nghĩa là: không chừng cái từ kép ấy chỉ mới xuất hiện từ khi tiếp xúc với văn hóa Tây phương. Nếu vậy, phải chăng hạnh phúc là khái niệm nhập cảng từ phương Tây? Mông lung trong đầu tôi bắt thêm nguồn từ mối nghi ấy. Bởi vì, nếu vậy, chẳng lẽ tôi phải bắt đầu bài nói chuyện của tôi bằng khái niệm hạnh phúc trong triết lý Tây phương?

Nếu tôi là một người nghiên cứu cẩn thận, tôi phải đọc lại những Hồ Biểu Chánh, những Nguyễn Chánh Sắt, những nhà văn đầu tiên ở Nam Kỳ để kiểm tra nghi vấn của tôi. Nhưng… hôm nay là ngày Tết Nguyên tiêu, tháng Giêng ăn chơi, cho phép tôi tạm miễn cái việc nghiên cứu bác học đó để nói những chuyện bâng quơ, thơ thẩn thường ngày. Và như thế là để được mông lung dạo chơi với các anh chị trong thế giới mông lung của hai từ hạnh phúc.
Trong thế giới mông lung đó, tôi thấy tôi trở về lại với thời ấu thơ, khoảng mười tuổi, lần đầu tiên thấy một chiếc gối trắng tinh, trên đó có thêu hai con chim châu mỏ vào nhau và bốn chữ “trăm năm hạnh phúc”. Chủ nhân của chiếc gối là một phụ nữ tân tiến, trẻ đẹp, độc giả say mê của Tự Lực Văn Đoàn. À ra thế, tôi nghĩ bụng, hạnh phúc là hai con chim châu mỏ vào nhau. Về sau, tôi thấy nhiều chiếc gối như vậy, vẫn hai con chim, khi thì cùng bay, khi thì cùng ngậm một chiếc lá. Không mơ hồ gì nữa, hạnh phúc là thế. Và hạnh phúc đó đi vào ngôn ngữ chúc tụng đám cưới: “trăm năm hạnh phúc” thay thế cho “bách niên giai lão”. Một ngôn ngữ tươi trẻ thay thế một ngôn ngữ già nua.

Cùng với việc đổi thay ngôn ngữ, triết lý hôn nhân thay đổi theo. Một khái niệm trừu tượng thay thế một khái niệm cụ thể. Trăm năm cùng già với nhau là định nghĩa vô cùng cụ thể của hạnh phúc lứa đôi. Cùng già với nhau là không bỏ nhau nửa chừng: thế là hạnh phúc. Không người này chết trước, người kia chết sau: thế là hạnh phúc. Bởi vì không có gì bất hạnh bằng người chết sau. Không có cái vai nào gánh được một đòn gánh gãy đôi. Xanh, cùng nhau xanh tóc. Bạc, cùng nhau bạc đầu.
Còn “trăm năm hạnh phúc” là nghĩa lý gì? Cái gì cụ thể kéo dài trăm năm? Yêu nhau? Nhưng yêu là gì? Con tôi đâu có yêu nhau theo kiểu Tự Lực Văn Đoàn nữa? Và có ai yêu nhau cùng một kiểu từ lúc ban đầu đến khi trăm tuổi? “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” là cái lưu luyến của chị Loan đứng vin cành mai nhìn anh Dũng đi xa. Giá như anh chị lấy nhau, chẳng lẽ cứ bắt chị Loan vin cành mai suốt trăm năm mới gọi rằng yêu? Vậy thì cái gì kéo dài suốt trăm năm để anh chị ấy có thể nói với nhau là hạnh phúc? Chúc vợ chồng người ta cái mà mình không biết là cái gì, ấy là chúc ảo, lấy ảo làm chân.
Lẩn thẩn, tôi đi xa hơn chút nữa trong ý nghĩ. Nếu hạnh phúc là một từ mới ở ta, phải chăng đó cũng là một từ mới ở Tàu? Khi Tàu chưa có thì ta cũng chưa có? Tàu có “phúc” thì ta cũng có “phúc”? Tàu chưa có “hạnh” thì ta cũng chưa có “hạnh”? Tôi thử tìm trong sách vở thì không chừng nghi vấn này có cơ sở vì có người viết: từ “hạnh phúc” chỉ mới xuất hiện bên Tàu gần đây thôi. Trước, từ đời Đường, họ chỉ viết “phúc”, và “phúc”, lúc đầu, có nghĩa là “dâng bình rượu đầy lên bàn thờ”. Như vậy, ý nghĩa nguyên thủy của “phúc” là thờ phụng, là cầu mong, cầu xin. Cầu xin gì? Khai quật các mồ mả đời Đường, họ thấy cái gì người sống muốn thì người chết đều có, người sống muốn giàu sang thì người chết cũng phải được hưởng giàu sang. Do đó, “phúc” là những thú vui mà họ cầu cho người chết được hưởng như chính họ mong được hưởng. Về sau, phúc, lộc, thọ đúc kết mong ước đó.

Một ý nghĩa khác được nói trong Kinh Lễ. “Phúc” là may mắn, hanh thông. Năm mới, Tàu cũng chúc như ta: “cầu gì được nấy”, “vạn sự hanh thông”. “Phúc” là vậy. Đầu óc, triết lý của Trung Hoa gần đất xa trời, vật chất, cụ thể. “Phúc” là sung mãn về vật chất, về thể xác, để đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái.

Trong khi lẩn thẩn đọc sách để kiểm tra thêm nghi vấn như vậy, tôi bỗng chộp được một quyển sách mới xuất bản ở Pháp mà nhan đề làm tôi hí hửng: “Le bonheur selon Confucius” (“Hạnh phúc theo Khổng Tử”). Đây là bản dịch tiếng Pháp của một nữ tác giả Trung Quốc, giáo sư tại Đại học Bắc Kinh, tên là Vu Đan. Nữ tác giả này giảng Luận Ngữ của đức Khổng trên tivi, nghe đâu thành công quá mức tưởng tượng, hàng triệu thính giả say mê theo dõi, như một hiện tượng. Tưởng gì, hóa ra một đức Khổng giảng cho quần chúng, đọc hơi mất thì giờ. Càng mất thì giờ hơn nữa khi người đọc cảm thấy bị lầm: Hạnh phúc đâu, sao không thấy đức Khổng nói? Cả phúc cũng vậy, chẳng thấy bóng dáng đâu cả.

Có gì khó hiểu đâu! Khái niệm căn bản trong Luận Ngữ là lễ; lý tưởng là tu thân. Suy từ trong đó ra, cũng hiểu được đôi điều về đề tài này. Đức Khổng dạy: đừng tìm sung sướng nơi hưởng thụ vật chất, phải tìm nơi đời sống tinh thần. Người quân tử ăn có cầu no đâu! Nhan Hồi ở trong ngõ hẹp, cơm một bầu, nước một giỏ, vậy mà lúc nào cũng vui. Đức Khổng khen: “Hiền thay Nhan Hồi!” Ngài đâu có khen phúc thay hoặc hạnh phúc thay? Mà đức Khổng lại còn đáng khen hơn nữa. Có lần ngài và học trò bị nước Trần, nước Sái vây khốn giữa đồng không mông quạnh, lương không một hột, học trò đói meo, ngồi dậy không nổi, vậy mà ngài vẫn dạy, vẫn ngâm thơ, đàn địch ca hát nữa. Bởi vì chỉ người hiền mới vui, mới biết vui cái vui như vậy.

Và như vậy, đứng về mặt triết lý, cái vui không phải là mục đích nhắm đến mà là kết quả tự nhiên của một trạng thái tinh thần. Nhà triết học Franois Jullien khẳng định: tư tưởng của Trung Quốc không bàn đến hạnh phúc như ở Tây phương bởi vì không xem hạnh phúc như là cứu cánh. Đi xa hơn, ông nói: tư tưởng Trung Quốc cũng không đặt ra cả vấn đề mục đích. Họ quan niệm hạnh phúc cũng như họ quan niệm chiến lược. Chiến lược có mục đích không? Không! Dàn trận thế nào là còn tùy ở đối phương, tùy ở tình thế của mặt trận. Giặc mạnh thì ta phải làm cho nó yếu; giặc nghỉ khỏe thì ta phải làm cho nó mệt; giặc no, ta làm cho nó đói; giặc hợp lại, ta làm cho nó chia ra; tùy tình thế mà linh động đối phó, thế nào để đến lúc cuối cùng, khi ta đánh thì giặc đã tự thua. Thành công không phải là mục đích mà là kết quả.

Hạnh phúc cũng vậy. Trang Tử nói: “Ai giết đời sống thì không chết; ai dưỡng đời sống thì không sinh ra”. Ý ông muốn nói: cứ nghĩ hoài đến đời sống, phải sống thế này, phải sống thế nọ, phải làm sao để trường sinh bất tử, thì tức là chẳng sống gì cả, sống cũng như chết. Vứt bỏ đi những câu hỏi vô ích đó, sống đi, sẽ thấy đời sống là vui. Hãy để cho đời sống quên đi đời sống, thế là thích chí. Tác giả ấy viết thêm: thay vì hạnh phúc, tư tưởng Trung Quốc chú trọng đến dưỡng khí, dưỡng sinh. Lưu thông, vận chuyển không trở ngại là đặc tính của khí, giống như nước chảy. Khi nước không bị khuấy động thì nước trong. Khi nước không bị sóng xao thì nước phẳng. Nhưng giữ nước lại, không cho nước chảy, thì nước hết trong. Băn khoăn lo nghĩ về mục đích cũng giống như chận khí, chận nước. Cứ sống tự nhiên, không căng thẳng thì bình yên, thì trường sinh, thì vui.
Đôi khi Khổng Tử cũng thốt ra những câu tương tự. Ngài nói: cứ đào một cái ao, tự nhiên cá sẽ có thức ăn. Cũng vậy, cứ sống theo đạo thì vui. Có lần, đứng nhìn cá lội trong nước, ngài bật lên: “Cá lội vui sao, cá lội vui sao!” Nhưng ngài sánh sao nổi với Trang Tử khi động đến cái vui tự nhiên ấy. Trang Tử nói: Kéo chiếc thuyền lên núi, tưởng thế là không ai lấy trộm được, nhưng kẻ cắp lực lưỡng có thể vác thuyền lên vai chạy xuống núi giữa đêm hôm. Đặt cái nhỏ trong cái lớn, ấy là đã biết ứng xử linh động, nhưng vẫn chưa đủ. Đặt toàn vẹn vũ trụ trong toàn vẹn vũ trụ thì không bao giờ mất. Không bao giờ suy suyển trong cái vui. Bậc hiền nhân vui như vậy. Như nổi trên mặt nước. Để nước cùng trôi với mình. Không đóng cọc mình vào một cái mục đích gì hết. Như tấm gương. Tấm gương không đóng cọc một cái gì trong nó cả. Bất cứ cái gì qua lại trước nó, nó đều có. Nhưng nó chẳng giữ bất cứ cái gì khi cái ấy đi qua rồi.

Triết lý âm dương cũng phụ họa theo. Mọi sự mọi vật ở đời đều do âm dương đối kháng mà ra. Có âm tất phải có dương. Có đêm tất phải có ngày. Thì hạnh phúc cũng vậy, có vui tất phải có buồn. Không có cái vui nào kéo dài mãi mãi. Kéo dài thêm quá một chút là chán. Thêm chút nữa là ngấy. Như ăn thừa mứa một món ngon. Bởi vậy, tìm đến cái vui như mục đích, chắc chắn sẽ thất vọng vì bản chất của cái vui là có giới hạn. Quên cái mục đích ấy đi thì hết đối kháng buồn vui. Thì an nhiên.
Nhưng thế nào là quên? Trang Tử cắt nghĩa: Làm cho quên cái bàn chân đi, ấy là toàn vẹn của đôi giày. Làm cho quên cái bụng đi, ấy là toàn vẹn của cái nịt. Làm cho hai bên toàn vẹn với nhau đến mức không thấy chút bất toàn nào nữa, ấy là toàn vẹn làm quên toàn vẹn. Đời sống làm quên đời sống. Thánh nhân vui mãi như vậy. Hạnh phúc toàn vẹn là hạnh phúc làm quên hạnh phúc. Quên luôn cái từ “hạnh phúc”, không có trong ngôn ngữ. Con người với vũ trụ là một, thiên nhân hợp nhất, tiêu dao thích chí.

Đó là Khổng Lão ở Đông. Tôi tạm quên Phật ở đây, vì đem Phật và Thiền ra nói nữa thì dài quá, phải dành riêng một buổi. So sánh Đông với Tây về hạnh phúc, trước hết có điểm khác nhau này thấy rất rõ: nếu Đông bảo phải quên mục đích đi thì Tây lại nhấn mạnh mục đích. Triết lý cổ Hy Lạp, nhất là Aristote, khẳng định: hạnh phúc là mục đích tối hậu của con người. Có ai sống mà không đi tìm hạnh phúc? Có ai đi tìm hạnh phúc vì một cái gì khác ngoài hạnh phúc? Đặc điểm của hạnh phúc là vậy: ta thường xuyên ước muốn hạnh phúc vì hạnh phúc, chứ không phải để được một của quý nào khác. Không ai đi tìm danh vọng vì danh vọng, khoái lạc vì khoái lạc. Người ta tìm những thứ đó vì nghĩ rằng đó là những thứ có thể đem lại hạnh phúc. Ngược lại, có ai đi tìm hạnh phúc để được danh vọng, để được khoái lạc đâu? Có ai ngược ngạo đi tìm cánh cửa để mở cái chìa khóa! Hạnh phúc là của quý cao hơn hết thảy, và hết thảy đều là phương tiện để đạt được hạnh phúc.

Thế thì làm sao để tìm được hạnh phúc? Triết lý cổ Hy Lạp rất phong phú về đề tài này, và ở đây Tây lại bắt gặp Đông. Socrate nói: muốn hạnh phúc, phải sống đạo hạnh. Không một hạnh phúc nào ló dạng nếu ta không sống một đời sống đúng đắn, ngay thẳng, quân bình. Nhưng làm thế nào để biết cái gì là quân bình, ngay thẳng, đúng đắn? Câu trả lời của Socrate hơi khó cho quảng đại quần chúng: nhờ kiến thức. Kiến thức là nền móng của một đời sống hạnh phúc, là người dẫn đường chỉ lối cho ta biết đâu là phải đâu là trái để hành động. Bởi vậy, đời sống hạnh phúc nhất, đáng sống nhất, là đời sống hiền triết. “Điều lành lớn hơn cả là mỗi ngày mỗi sửa mình”, đó là câu nói của Socrate trước các quan tòa sắp xử ông tử hình. Ông thà chết chứ không chịu sống một đời sống thiếu triết lý. Ông nói thêm một câu mà lát nữa chúng ta sẽ bàn: “Điều quan trọng không phải là sống mà là sống thiện” – vivre dans le bien.

Nghe Socrate khuyên điều thiện, điều lành, tưởng chừng như nghe đức Khổng đang luận ngữ. Chẳng cần giàu sang phú quý mới hạnh phúc; ai cũng có thể hạnh phúc nếu biết tu thân. Hạnh phúc của Socrate dựa trên một cái kiềng ba chân: biết đủ, biết trùng hợp, biết lý trí. Với chân thứ nhất, đạo đức là điều kiện đầy đủ để hạnh phúc. Với chân thứ hai, đạo đức trùng hợp với hạnh phúc, cả hai là một. Với chân thứ ba, hành động không chê trách về đạo đức là hành động hợp với lý trí.
Sau Socrate, Aristote đưa vào hạnh phúc một vài yếu tố ở bên ngoài gần gũi với con người trần tục của chúng ta hơn một chút. Sức khỏe chẳng phải là hạnh phúc sao? Thử cúm gà một bữa thì biết. Tiền bạc chẳng phải là hạnh phúc sao? Thử vào nhà thương mà coi. Và nhan sắc, ối, chỉ nhìn thôi cũng sướng. Và quyền lực, ối, có nó là có tất cả trong tay. Thế nhưng, lạ nhỉ, khối kẻ có đủ tất cả các thứ ấy mà vẫn không hạnh phúc! Cho nên Aristote tiếp theo liền: quảng đại quần chúng ham những thứ đó mà lắm khi quên mất rằng cơ sở của hạnh phúc là đức hạnh dưới mọi hình thức. Biết điều độ, biết vừa phải, biết phân biệt cái gì là chính yếu, cái gì là phù phiếm, thì cánh cửa hạnh phúc mới mở ra. Giống như đức Khổng phân biệt quân tử với tiểu nhân, Aristote phân biệt từng loại người và từng loại thú vui có khả năng đưa đến hạnh phúc. Dưới cùng là quần chúng, và quần chúng thô thiển nhất lầm tưởng hạnh phúc là thú vui, cho nên ham thích một đời sống toàn là hưởng thụ vui thú. Trên một bậc là giới thượng lưu, giới này quan niệm hạnh phúc tùy thuộc hoàn toàn vào những điều kiện bên ngoài. Chỉ có trên cao nhất, những triết gia, mới biết hạnh phúc toàn hảo, thực sự, xứng đáng sống. Con người, vì có lý trí, nên vươn tới một đời sống suy tưởng (contemplation), đời sống đó là hạnh phúc đích thực. Khác với con vật, thiên nhiên phú cho con người trí óc, trí óc đó khiến con người có thể vượt lên trên con người để vươn lên đến trời: hạnh phúc là một đời sống hợp với lý trí.

Chỉ chừng đó thôi cũng đủ thấy từ xửa từ xưa, triết lý Hy Lạp đã phân biệt hạnh phúc với thú vui – le plaisir – cái này không phải là cái kia, tuy trong cái kia có thể có cái này. Ngay cả Epicure, triết gia của thú vui, chủ trương sống là để hưởng thụ thú vui, nâng thú vui lên thành mục tiêu tối hậu của con người, ngay cả ông ấy cũng cảnh cáo đâu là những thú vui đưa đến hạnh phúc, đâu là những thú vui đưa đến thất vọng, chán chường. Ăn uống tiệc tùng là vui quá, nhưng rượu thịt ê hề thì hết ngon, hết vui. Một đời sống vui thích, ông nói, không phải là một chuỗi, một xâu thú vui, cái này tiếp nối cái kia, mà là sự thảnh thơi trong tâm hồn của một người không có gì để mà lo, không có gì để thấy thiếu, biết vừa đủ trong mọi ham muốn, nhu cầu. Ngay cả ham muốn, cũng phải biết phân biệt. Có những ham muốn chẳng tự nhiên mà cũng chẳng cần thiết: danh vọng chẳng hạn, việc gì phải chạy theo nó, khổ thế. Có những ham muốn tự nhiên nhưng không cần thiết: ăn uống chẳng hạn, nhưng đâu cần nuốt cho được cái óc khỉ mới thấy vui? Cuối cùng, có những ham muốn vừa tự nhiên vừa cần thiết: đói mà ăn được tô phở là sướng thấu trời. Quân bình trong tâm hồn, thanh thản trong trí óc: thế là thích. Ai muốn biết thế nào là thanh thản, Epicure dạy bốn điều: một là đừng sợ thần thánh, vì thần thánh đã sướng quá rồi, đâu cần gì đến ta nữa mà phải sợ; hai là đừng sợ chết, vì khi ta sống thì nó không có, còn khi nó đến thì ta, ô hô, đâu còn biết gì nữa mà sợ; ba là cái gì tốt thì có thể lấy được dễ dàng; bốn là cái gì xấu thì cũng dễ dàng chịu đựng. Thế là vui thích.

Thú vui không phải là bà con của hạnh phúc, dù là bà con xa: nó là đứa bạn giả dối. Nó cho một giây phút khoái lạc, khoái lạc hết thì nó cũng hết, như ngọn nến, cháy để mà tàn. Bà con gần của hạnh phúc là sự sung sướng – la joie. Làm một cái gì thành công, ta sung sướng. Ước muốn gì được thỏa mãn, ta sung sướng. Cái sung sướng ấy lộ ra trên mặt, trên mắt, trên miệng, trên tay chân. Cứ xem anh thí sinh đi coi bảng, tưởng đạp vỏ chuối hóa ra tên tuổi chói lọi bảng vàng. Hét vang! Nhảy cỡn! Đó là một biểu hiện của hạnh phúc, nhưng khác hạnh phúc ở chỗ nó cũng chóng qua. Hạnh phúc là một trạng thái sung sướng nhẹ nhàng, bình yên, và vì bình yên nên có thể dài lâu. Nó bình yên vì nó không lệ thuộc vào bên ngoài, vào những cảm xúc, thậm chí nó có thể hiện diện mà không cần đến tôi, như hơi thở, cứ tự nhiên vào ra mà chẳng cần biết tôi đang thở. Trạng thái ấy, người ngồi thiền thường biết, nhưng người thường như chúng ta vẫn có thể biết được trong đời sống thường ngày, không cứ gì phải là thánh nhân hay triết gia.

Muốn thế, trước hết phải biết sống với giây phút hiện tại, đừng vơ vẩn tưởng nhớ đến quá khứ, cũng không hão huyền mơ tưởng, chờ đợi ở tương lai. Con người, ai lại không có ham muốn, nhưng chờ đợi ở tương lai để thỏa mãn ham muốn của mình là chạy theo đau khổ. Bởi vì, dù ham muốn đó có được thỏa mãn đi nữa, hễ hết thỏa mãn là hết ham muốn, và hết ham muốn thì cũng hết luôn thích thú. Sự đời vốn vậy: không có thì thèm, có rồi thì hết khoái. Thì muốn cái khác, thì chạy theo cái khác, thì cứ bắt tương lai phải lấp đầy một cái thiếu triền miên. Còn hiện tại là gì? Là nhàm chán sau khi đã hết thèm. Hơn nữa, là trống trải, kẻ thù khủng khiếp hơn cả thèm khát. Cuộc đời lắc lư như quả lắc đồng hồ, từ phải sang trái rồi từ trái sang phải, từ đau khổ qua nhàm chán rồi từ nhàm chán qua đau khổ. “Con người tưởng tống hết được khổ đau xuống địa ngục hóa ra chỉ lấp được đầy trời bằng nhàm chán”. Tôi mượn câu nói đó của Schopenhauer, triết gia luận về cái khổ sâu nhất ở đầu thế kỷ 19, do chịu ảnh hưởng Phật giáo. Nhưng, trái với Phật giáo, ông này rất bi quan. Ông nói: “Khi dục vọng và thỏa mãn kế tiếp nhau bằng những khoảng cách không dài lắm mà cũng không ngắn lắm, thì khổ đau, sản phẩm chung của cái này và cái kia, hạ xuống mức thấp nhất: và đó là đời sống sung sướng nhất”. Nghĩa là: đau khổ là bản chất của đời sống, và những giây phút mà ta gọi là “hạnh phúc” không có gì khác hơn là những khoảnh khắc hết đau khổ trước khi bước qua đau khổ khác. Thế thì, nói theo Phật giáo, cách hay hơn cả có phải là đừng chạy theo tham dục, đừng làm nô lệ nó, vui với cái mình đang có, và thấy biết rằng bất cứ cái gì mình đang có đều là của quý nhất trần gian. Đừng chối từ đau khổ, vô ích, hãy từ đau khổ mà đi lên. Và hạnh phúc không phải nằm đâu ở đằng trước mà nằm nơi từng bước chân ta đi.
Tôi mượn một câu của văn hào Saint Exupéry để tóm tắt những gì tôi vừa nói: “Nếu ai muốn hiểu chữ hạnh phúc là gì, hãy xem nó như là phần thưởng, đừng xem như là mục đích”. Quả thật, ai cũng muốn sung sướng cả, nhưng đuổi theo hạnh phúc cũng như đi tìm dấu chim bay, bởi vì hạnh phúc, nói theo Kant, là “lý tưởng của tưởng tượng”. Nhà thơ Jacques Prévert của Pháp có một câu thơ rất tuyệt vọng: “Tôi nhận ra được hạnh phúc nơi tiếng động của bước chân nó đi qua”. Thánh nhân và triết gia, các vị mà tôi nhắc đến ở trên, mỗi vị nói một cách khác nhau, nhưng tựu trung chỉ nói với ta một điều: nó đâu có đi qua, nó nằm trong nội tâm của ta, lòng không rối loạn thì nó hiện ra.

Các anh chị thân mến, tôi cám ơn các anh chị nãy giờ đã không phản đối. Bắt người ta nghe “hạnh phúc trong thơ” mà chẳng thấy thơ đâu cả, chỉ triết lý vẩn vơ, từ Khổng Lão qua Hy Lạp cổ, Tây phương mới. Thì tôi đã nói: tôi mời anh chị dạo chơi trong thế giới mông lung của hai chữ hạnh phúc mông lung. Dù sao tôi cũng đã chính xác hóa nó đôi chút rồi: hạnh phúc không phải là thú vui, hạnh phúc cũng khác với sung sướng, hạnh phúc nằm trong nội tâm.

Nằm trong nội tâm. Triết lý khô khan quá, có lẽ tôi phải mượn văn chương để làm tươi mát điểm quan trọng này. Tôi mượn một nhà văn Pháp, một đại văn hào nửa cuối thế kỷ 19, rất gần với ta, với thế hệ của chúng tôi: Guy de Maupassant. Ông là ông tổ của trường phái tả thực, tả rất sống động, từ những thay đổi trong xã hội đến những đam mê nóng bỏng của con người. Vậy mà trong những truyện ngắn rất động của ông, lóe lên một truyện ngắn rất tĩnh, tưởng chừng như ông thầy tu nào đó đang kể. Truyện mang nhan đề đúng phóc đề tài nói chuyện của chúng ta hôm nay: “Le bonheur” (Hạnh phúc). Có lẽ vì thế mà tôi mời ông vào chơi với chúng ta. Tôi xin kể tóm lược.
Lúc đó là giờ uống trà buổi chiều. Hoàng hôn bắt đầu phủ tím dãy núi đằng xa. Trong phòng trà nhìn ra biển, câu chuyện tình cờ xoay qua lĩnh vực tình yêu. Người ta có thể yêu nhau từ năm này qua năm khác không? Người nói có, kẻ nói không. Bỗng có người đứng dậy, cất tiếng: “Quý vị có biết hòn đảo bên kia dãy núi không? Đảo ấy hoang vu, ít người ở, đất cằn cỗi, bão tố quanh năm. Cách đây mấy tháng, tôi có dịp thám hiểm đảo ấy. Một ngày kia…”
Mọi người im phăng phắc, vì “một ngày kia” thì chắc chắn là câu chuyện sẽ ly kỳ. Mà ly kỳ thật. “Một ngày kia, trời đã tối, tôi chợt đứng trước một căn nhà nhỏ, mọc lên trong lòng thung lũng, cô đơn giữa hai triền núi. Tôi gõ cửa. Một bà già tiếp tôi, dáng khắc khổ nhưng người sạch sẽ. Dưới ánh đèn, một ông già ngồi trên ghế rơm, đứng dậy chào tôi, rồi lặng lẽ ngồi xuống, không nói một lời. Bà già cắt nghĩa: “Ông nhà tôi điếc. Năm nay, ông 82 tuổi rồi”. Bà kể: hai ông bà từ bỏ phố phường văn minh đến định cư trên đảo này đã chẵn năm mươi năm. Năm mươi năm giữa hòn đảo hoang vu này!
“Bà mời tôi ăn tối. Bữa ăn chỉ vỏn vẹn một món: cháo nấu với khoai, một ít mỡ, vài lá su. Ăn xong, tôi ngồi trước cửa, lòng se lại một nỗi buồn hiu hắt mà khách viễn du thường cảm thấy vào những buổi hoàng hôn giữa chốn tiêu sơ. Đó là những lúc mà tất cả nỗi khổ của cuộc đời như ập vào lòng, cô đơn thấm thía đến tận xương tủy, cuộc đời bỗng vô nghĩa, vũ trụ như tan biến trong hư vô.
“Bà già bước ra cửa, đến ngồi bên cạnh tôi. Nỗi buồn của chiều tối dường như dễ giúp chúng tôi thổ lộ những chuyện ở đáy lòng. Mà tình cờ làm sao, thành phố mà bà đã ở năm mươi năm về trước là thành phố mà tôi hiện ở, và tên của bà, tên của bà, trời ơi, là dòng dõi một danh gia vọng tộc đã từng sống trong tỉnh của tôi! Một đại gia! Một đại quý tộc! Tôi hoảng kinh nhớ lại chuyện năm mươi năm về trước mà trong tỉnh của tôi ai cũng biết: một thiên kim tiểu thư, ái nữ của một ông tướng, bỏ nhà trốn đi với một hạ sĩ quan hầu cận. Ai cũng đinh ninh tiểu thư chết rồi, vậy mà bây giờ bà đang ngồi trước mặt tôi, giữa hòn đảo hoang vu này”.
Các anh chị thân mến, tôi kể lể như vậy có dài dòng không? Dài dòng là cốt để chấm dứt với một câu này thôi trong truyện của Maupassant:
“Tôi hỏi bà:
– Ít ra bà có sung sướng không?
Bà trả lời với một giọng thốt ra từ trái tim:
– Ồ, sung sướng, rất sung sướng. Ông nhà tôi đã làm tôi rất sung sướng. Tôi chẳng có gì để tiếc nuối”.
Tôi phỏng dịch thêm vài câu nữa để làm rõ ý hơn:
“Tôi ngắm bà, vừa ngạc nhiên, buồn buồn, vừa thán phục sức mạnh của tình yêu. Người thiếu nữ thiên kim ấy đã đi theo anh chàng này, anh nông dân này, rồi đã tự mình trở thành một người đàn bà nông dân, một phụ nữ quê mùa, đầu vấn khăn, mình bận vải thô, ăn trong chén đất, ngồi trên ghế rơm, nằm trên nệm cỏ. Mà vẫn yêu người kia như trước! Bà không nghĩ đến gì khác nữa, chỉ nghĩ đến anh chàng, không có nhu cầu nào khác ngoài chàng. Miễn là có chàng bên cạnh, bà không ham muốn gì khác. Bà đã từ bỏ cuộc đời, từ bỏ tất cả để đến đây, sống một mình với chàng ấy, giữa khe núi hoang vu này. Và chàng là tất cả đối với bà, tất cả những gì mà người ta ước muốn, mà người ta mơ mộng, mà người ta mãi hoài chờ đợi, mà người ta hy vọng không nguôi. Chàng mang đầy ắp hạnh phúc cho cuộc đời của bà, từ đầu đến cuối”.
Chàng mang hạnh phúc… Tôi chọn truyện này để tô điểm thêm cho những gì tôi đã nói: hạnh phúc là một trạng thái bình yên, dài lâu, không phải như thú vui, không phải như nỗi sướng, không lệ thuộc bên ngoài, không tìm kiếm ở tương lai, không vướng bận ham muốn. Với một trạng thái như vậy, một tâm hồn như vậy, một nghệ thuật sống như vậy, rất dễ hiểu tại sao hạnh phúc thường là đề tài của triết lý. Cũng bởi lẽ ấy, hạnh phúc đơm hoa, tỏa hương trong thơ cổ, nhất là thơ thiền. Và như vậy, tôi vừa mượn văn chương của Maupassant làm chuyển mạch để bắt qua chuyện thơ, chuyện hạnh phúc trong thơ như đã hứa.
Vâng, hạnh phúc mang mang trong thơ cổ. Thoát tục là hạnh phúc.
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn nói: thế là hạnh phúc. Nhưng ngôn ngữ ta lúc đó đã có từ kép “hạnh phúc” đâu để ông nói. Mà không có ngôn ngữ thì cũng không có khái niệm. Ngay cả Nguyễn Du cũng chỉ thốt ra: “Tu là cỗi phúc”. Ông nói “cỗi phúc”; ông đâu có nói “hạnh phúc”? Hai khái niệm không giống nhau! Hình như chữ “hạnh” mới thêm vào sau này ở Tàu chỉ là động từ, có nghĩa là mưu cầu, cầu mong, cầu cho được phúc. Phúc là ý chính, ý từ xưa, không thay đổi.
Nhưng Tàu thêm chữ “hạnh” vào lúc nào? Mù tịt điểm này, tôi lý luận: hay là ta thử xem tình hình ngôn ngữ ở bên Nhật? Nếu Việt Nam ta không có, Nhật cũng không, thì chắc là Tàu cũng không. Dò hỏi bạn bè bên Nhật, hay thật, quả là như vậy, trước đây Nhật cũng không có từ “hạnh phúc”. Cũng như ta, Tàu dạy họ chữ “phúc” thôi. Nhưng Nhật vấp văn hóa Tây phương trước Tàu, họ vấp chữ “happiness”, không dịch được. Cho nên họ sáng tác, như đã sáng tác bao nhiêu từ mới, và do đó từ ghép “hạnh phúc” thoát thai với nghĩa như ta dùng ngày nay. Rồi cũng như rất nhiều từ mới khác ra đời tại Nhật hồi thế kỷ 19, “hạnh phúc” được Tàu nhập khẩu, rồi từ Tàu tái xuất qua ta. Ta khỏi mất công sáng tác, y chang sao chụp, như đã sao chụp bao nhiêu thứ khác với tất cả tài ba.
Nhưng ta nhập khẩu từ mới đó lúc nào? Không trả lời nổi câu hỏi này, tôi rẽ qua một hướng khác và tự hỏi: Nếu hạnh phúc là một khái niệm được nhập cảng từ Tây phương thì chắc hẳn các nhà thơ mới đầu tiên của ta, những người đã được nhào nặn trong văn hóa Pháp, đã hiểu “hạnh phúc” cũng như người Pháp hiểu. Vậy, họ có đưa cách hiểu đó vào thơ của họ không? Hay là trong quan niệm về hạnh phúc của họ vẫn còn vấn vương ảnh hưởng của thơ cổ? Của triết lý cổ? Hạn hẹp hơn nữa, tôi chỉ muốn thỏa mãn một tò mò: hai chữ hạnh phúc đã đi vào như thế nào trong thơ mới, trong những bài thơ mới nổi tiếng đầu tiên, của những nhà thơ chịu ảnh hưởng đậm nhất của văn học Pháp? Ai? Thì còn ai nữa? Xuân Diệu, Huy Cận.
Đó là hai nhà thơ tiêu biểu nhất. Không phải chỉ vì họ là thi bá trên thi đàn lúc đó, mà còn vì họ là con đẻ của dòng thơ lãng mạn Pháp, lấy cảm xúc và yêu đương làm đề tài chính của thơ, nghĩa là lấy hai con chim châu mỏ vào nhau trên gối của tôi lúc nhỏ làm ý nghĩa cho hạnh phúc. Định nghĩa về hạnh phúc, do đó, được giới hạn lại cho kém mông lung, trên một lĩnh vực tương đối cụ thể, dễ thấy, dễ tưởng tượng – lĩnh vực của lứa đôi. Vậy lứa đôi trong Xuân Diệu, Huy Cận, hạnh phúc như thế nào?
Tôi giới hạn Xuân Diệu vào tập thơ đầu, Thơ Thơ. May mắn cho tôi, ngay trang đầu, người viết tựa là Thế Lữ, nhà thơ mới tiên phong, trước cả Xuân Diệu, tiên phong nhưng thơ vẫn phảng phất phong vị cổ. May mắn hơn nữa, Thế Lữ đưa ngay hai chữ hạnh phúc vào bài tựa. Ông viết: “Là một người sinh ra để sống, Xuân Diệu rất sợ chết, sợ lặng im và bóng tối, hai hình ảnh của hư vô. Mục đích của đời người có phải là hạnh phúc đâu? Mục đích chính là sự sống. Mà còn gì làm sự sống đầy đủ hơn Xuân và Tình?”
Tôi mừng quá, vì sao ông nói giống như tôi đã nói ở trên vậy, giống như triết lý cổ của ta, hạnh phúc không phải là mục đích? Càng mừng hơn nữa, vì tôi cũng giống Xuân Diệu, sinh ra để mà… sống. Nhưng Xuân Diệu có sống không? Đùa một chút với Thế Lữ, tôi nghĩ Xuân Diệu không phải sinh ra để sống mà là để chết.

Này nhé, ngẫm mà xem, có ai sống chỉ vì sợ chết không? Có ai mê ánh sáng chỉ vì sợ bóng tối? Có ai ham âm thanh chỉ vì sợ lặng im? Một trăm cái tiêu cực cũng không làm nổi một cái tích cực. Tôi cho vai gầy là đẹp đâu có phải vì tôi sợ vai mập? Nếu Xuân Diệu sợ cái chết đến thế, nếu ông cứ bị cái chết ám ảnh hoài, nếu ông trốn cái chết như trăng trốn đêm ba mươi, thì quả là ông sống thường xuyên với cái chết chứ đâu có sống với cái sống? Hãy nghe ông hốt hoảng:
Đi mau! trốn nét! trốn màu!
Trốn hơi! trốn tiếng! trốn nhau! trốn mình! 

Trốn mình thì làm sao mà sống? Ấy là chơi trò cút bắt với cuộc đời trong khi cuộc đời cứ lừng lững đi tới. Cho nên, trái với Thế Lữ, tôi cũng chưa từng thấy Xuân Diệu sống với mùa xuân. Đây, ông chơi trò cút bắt với mùa xuân:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất 

Chưa sống, ông đã trốn. Chưa sang xuân, ông đã sợ hết xuân. Cả đời, ông chỉ sợ. “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”, trời ơi, sướng thế, vậy mà lòng ông lạnh ngắt:
Ai có biết mùa xuân lên nặng lắm
Trên cành hồng và trong những trái tim?
Nghe điệu lòng hưởng ứng với ca chim
Tôi tự thấy lạc loài trong nắng mới.
Cũng có lúc ông chợt hồ hởi:
Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đến đã lâu rồi
Từ lúc yêu nhau xuân nở mãi
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi. 

Nhưng ấy là ông nói láo. Có hai chuyện trong đó không thật: một là “yêu nhau”, hai là “hoa nở mãi”. Xuân Diệu đâu có sống để yêu hoặc yêu để sống! Ông đã định nghĩa rồi, xác quyết: “Yêu là chết trong lòng một ít”. Lại chết, đâu có sống! Vì sao? “Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu / Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”. Vậy thì đâu có “yêu nhau”! “Nhau” chỗ nào? Ấy là chỉ gần nhau để lạc nhau:
Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt
Những người si theo dõi dấu chân yêu 

Thậm chí, bao nhiêu lần ôm người đẹp trong tay, ông vẫn chẳng thấy “nhau” gì cả:
Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều
Mà ta riết giữa đôi tay thất vọng 

Tôi tưởng như nghe đồng vọng ba câu thơ của Aragon: “Ta dang tay ra, bóng ta là cây thập giá”. Bởi vì:
Không có tình yêu nào là sung sướng cả
Nhưng đó là tình của cả đôi ta 

Trong Aragon, cả hai đều biết thế. Trong Xuân Diệu, tội nghiệp quá, một người thì hăm hở, vội vàng, cuống quýt, sảng sốt, rồi tuyệt vọng, rầu rĩ, nài nỉ, thở than; một người thì “thản nhiên bên một kẻ cháy lòng”, “yên ổn như mặt hồ nước ngủ”. Có thấy “nhau” chỗ nào đâu? Trời đất có cho ông cái diễm phúc đi bên nhau với người đẹp dưới trăng thì ông cũng thế thôi, “hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”.
“Yêu nhau” đã không thì “hoa nở mãỉ” sao được! Chưa nở đã tàn, tàn rồi mới sực biết đã nở:
Nắng mọc chưa tin, hoa mọc không ngờ
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt 

Vậy thì Xuân Diệu thiếu cái gì mà nông nổi như thế? Ồ, cái ấy quan trọng lắm, quan trọng nhất đời: ông không có hiện tại! Hiện tại không có thì làm sao mà sống? Không có, vì hiện tại của ông tùy thuộc vào đối phương. Ông hớt hơ hớt hải thúc giục người kia: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ”. Nhưng đối phương nhẩn nha nhẩn nhại chẳng chịu “mở miệng vàng” để “nói yêu tôi”. Thì ông làm gì được với hiện tại? Cái ông đang có trong tay, ông không thấy có, ông cứ đi tìm những cái ông không thể có được, những “vô biên”, những “tuyệt đích”, những ham hố, tham lam, những khẳng định lừa lọc, phải nói, phải nói, “phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần”, phải để cho ông rọi kính hiển vi vào tận giấc mơ. Tại sao? Tại vì ông sợ! Ông sợ cái ông đang có trong tay! Sợ gì? Sợ mất! Cho nên, đang có trong tay ông vẫn đi tìm, “em biết không, anh tìm kiếm em hoài”. Xuân Diệu đâu có sống với cái có. Ông sống với cái sợ. Ông đâu sống với hiện tại. Ông sợ nó. Ông sợ nó đi qua. Nó vừa đến ông đã chạy. Chạy níu áo nó hụt hơi. Nhưng chưa chạy, ông lại đã sợ. Sợ gì? Sợ tương lai. Đừng tưởng ông “tắt nắng đi”, “buộc gió lại” là để tận hưởng hiện tại. Người biết tận hưởng nắng và gió thì cứ thế mà tận hưởng, phanh ngực ra. Ông thì sợ. Ông tận hưởng cái sợ của ông. Sợ hiện tại chạy mau hơn ông. Và nó chạy mau thật. Vút! Và ông khiếp quá, tái mặt, giục giã: “Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai”.

Vậy thì Xuân Diệu có bao giờ biết được hạnh phúc không? Có thốt ra hạnh phúc không? Có mang hai chữ hạnh phúc vào thơ không? Có! Thế Lữ nói sai rồi chăng? Mà không phải chỉ một lần. Hai lần! Lần đầu trong bài “Kỷ niệm”. Bài thơ dài, tôi chỉ đọc đoạn cuối, sau khi hai người “ngó mê nhau” và kề tai nhau thỏ thẻ “em hỡi” với “anh ơi”:
Em lúc ấy nhìn anh như lệ ứa
Êm ái như trong gió có mùi hương
Trong mắt em anh tưởng thấy thiên đường
Ôi hạnh phúc! Anh gục đầu nhắm mắt 

Ý nghĩa gì vậy trong hai chữ hạnh phúc ở đây? Vui thú? Sung sướng? Không, ngất ngây. Nhưng Xuân Diệu ngất ngây không phải để ngừng lại ở ngất ngây mà để nói cái “sau ngất ngây”, cái ấy đến ngay tức khắc:
Sao ngắn ngủi là những giờ gặp mặt
Sao vội vàng là những phút trao yêu
Vừa nắng mai sao đã sương chiều
Em hờ hững để cho lòng anh lạnh. 

Ba chữ “sao” liền trong một thoáng. Chưa kịp nóng đã lạnh. Như thường lệ. Vậy hạnh phúc chạy đi đâu? Tôi đuổi theo nó và thấy nó ló dạng trong một bài thơ khác, bài “Mời yêu”. Bài thơ dài, tôi cũng chỉ đọc một đoạn:
Đã bao lúc màu hoa đem nhớ tới
Biết nhớ ai, đành chỉ nhớ xa xôi
Lời ái ân ngừng lại ở trên môi
Mặc ánh sáng tha hồ reo trên nội
Năm nay lại vương bồi hồi gió sợi
Năm nay hương dây lại tới bồi hồi
Một trời mơ đang cầu nguyện trong tôi
Chờ một tiếng để bừng lên hạnh phúc.
Một tiếng thôi. Tiếng gì?
Mở miệng vàng, và hãy nói yêu tôi
Dù chỉ là trong một phút mà thôi. 

Hỡi ôi, hạnh phúc trong Xuân Diệu! Hạnh phúc ấy chưa đến vì còn chờ. Còn tùy thuộc. Mà nó cũng không có. Không thể có, ông biết thế. Cái tiếng ấy, ông đã nghe đến trăm bận nghìn lần mà có tin đâu? Thì bây giờ làm sao ông tin được! Cho nên hạnh phúc mà ông nói là ông bịa, tội nghiệp hơn nữa, ông bịa để ông lừa, ông lừa ông, ông tự lừa mình:
Người được nói tôi được nghe là đủ
Thực càng hay mà giả dối lại sao
Tôi lắng đợi! Nhịp lòng tôi đứng lại!
Tôi cần tin! Tôi khao khát được nhầm!
Cho tôi mơ một ảo tưởng thâm trầm
Và mặc kệ, nếu đó là dối trá. 

Đó là một mặt của chữ hạnh phúc trong Xuân Diệu, mặt ảo. Hạnh phúc không có, chỉ là ảo tưởng. Sống cũng không thật, chỉ là sống mơ. Ham cũng vậy, cũng không thật, chỉ là thiếu. Lấp trống chỗ thiếu, ông tìm ngất ngây. Nhưng cả ngất ngây, ông cũng không có, vì ông chỉ muốn: Hỡi xuân nồng ta muốn cắn vào ngươi. Muốn cắn không phải là cắn. Hôn cũng vậy. Ta hôn nhau, thế là sướng tuyệt đỉnh. Ông thì khác, chưa hôn đã muốn, mà lại muốn cái khác hay hơn:
Cái Nên lúc môi ta kề miệng thắm
Trời ơi, ta muốn cắn hồn em!

mặt ảo ấy của hạnh phúc, Xuân Diệu làm cả một thế hệ thanh niên say mê, bởi vì người trẻ nào không mơ mộng ái tình, không say đắm ảo tưởng như ông? Tôi cũng đã không thoát nổi tay ông, ngay cả bây giờ, ông biết vậy nên mới cho phép tôi đùa. Ông còn dụ tôi: “Tôi ưng đùa, người hãy cợt thản nhiên”. Nhưng tôi không đùa nữa khi tôi đọc chữ hạnh phúc trong một bài thơ khác, tôi tưởng chừng như gặp bộ mặt kia của hạnh phúc trong Xuân Diệu, mặt thật. Lạ lắm, Xuân Diệu Tây thì thật Tây, mà không lai, mà rất Việt. Thơ ông tự nhiên mới, mới dễ dàng, lọt lòng Việt Nam như không hề chuyển bụng. Thỉnh thoảng ông đưa vào một đôi ý, dăm ba từ cổ, nhưng ngẫm nghĩ mới thấy phong vị cổ, còn không thì mới toanh. Thế Lữ nhấn mạnh Xuân Diệu như một trái ngược: “nồng nàn bởi vì thê lương, khăng khít nhưng vẫn hững hờ”. Và: “Con người phức tạp cũng đơn sơ, con người thiết thực cũng mơ mộng: ông có một trái tim nhưng ông còn có một linh hồn”.

Trái tim và linh hồn khác nhau thế nào trong thơ? Một bên là cảm xúc, một bên là suy tư? Một bên là xôn xao bão tố ở bên ngoài, một bên là lắng đọng tinh túy ở bên trong? Một bên là động, một bên là tĩnh? Một bên là Tây, là văn học lãng mạn Pháp, một bên là ta, là thuyền ngư phủ lạc vào cổ thi? Tôi không biết. Chỉ thấy rằng khi Xuân Diệu không chạy nữa, khi ông đứng lại, khi ông chịu khó quên đi những mắt, những môi, khi ông đừng “ta muốn”, “ta muốn”, khi ông đứng nhìn vườn hoa như là vườn hoa, đừng lập tức “đem chim bướm thả trong vườn tình ái”, khi ấy Xuân Diệu lạc mất Xuân Diệu, vẫn Tây, vẫn mới, vẫn làm nam nữ mê say, nhưng một Xuân Diệu bình yên với một hạnh phúc bình yên, êm ả, lâng lâng, như trời xanh ngắt trên chiếc ao thu. Đó là hạnh phúc mà tôi nghĩ là thật trong bài thơ có một nhan đề khẳng định: “Lạc quan”. Lần này, tôi phải đọc trọn bài để cùng với Xuân Diệu đuổi hết những người đẹp đi cho khuất mắt:
Vườn cười bằng bướm, hót bằng chim
Dưới nhánh không còn một chút đêm
Những tiếng tung hô bằng ánh sáng
Ca đời hưng phục trẻ trung thêm

Gió qua, như một khách thừa lương
Lay nắng trên mình lá loáng sương
Hoa cúc dường như thôi ẩn dật
Hoa hồng có vẻ bận soi gương

Vàng tươi, thược dược cánh hơi xòa
Ửng dạng, phù dung nghiêng mặt hoa
Nhánh vút làm cho bông huệ ngợp
Lòng trinh giữ lại nửa bông trà

Hình eo, dáng lả, sắc xinh xinh
Phơi phới cùng nhau thở thái bình
Của nỗi yêu trùm không giới hạn
Dịu dàng tỏa xuống tự trời xanh

Hạnh phúc vờn trong buổi sớm mai
Vừa tầm với bắt của tay người
Ái tình đem máu lên hoa diện
Thi sĩ đi đâu cũng thấy cười.

Tất nhiên còn vướng hai chữ “ái tình” ở câu gần cuối, nhưng biết làm sao được, con cá nó sống nhờ nước… 

Hạnh phúc vờn trong buổi sớm mai
Vừa tầm với bắt của tay người

Chưa từng thấy câu thơ nào như vậy trong thơ đầu của Xuân Diệu. Nếu bắt chước chữ của Thế Lữ, tôi sẽ hỏi: Xuân Diệu biết đủ hồi nào vậy; hồi nào vậy, ông đi vào linh hồn triết lý hạnh phúc của Thiền, của Lão Trang, của Việt Nam?

Tôi nói câu cuối cùng này không phải để kết luận về Xuân Diệu mà là để bắt qua một bài thơ của Huy Cận mà tôi cho là đặc trưng của hạnh phúc – hạnh phúc trong nghĩa đơn sơ, giản dị, dễ gần, dễ gặp trong cuộc đời. Trong bài thơ cũng có tình yêu, cũng có người đẹp, có gót ngọc, có bàn tay, có má, có tóc, nhưng tất cả đều nhẹ, đều trong, đều thơm, đều bay lên, thanh thoát, thần tiên, bởi vì hạnh phúc là thế thôi, đơn sơ như một tà áo trắng:
Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.

Em đẹp bàn tay ngón ngón thon;
Em duyên đôi má nắng hoe tròn.
Em lùa gió biếc vào trong tóc
Thổi lại phòng anh cả núi non.

Em nói, anh nghe tiếng lẫn lời;
Hồn em anh thở ở trong hơi.
Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài.

Đôi lứa thần tiên suốt một ngày
Em ban hạnh phúc chứa đầy tay.
Dịu dàng áo trắng trong như suối
Tỏa phất đôi hồn cánh mộng bay. 

“Em ban hạnh phúc chứa đầy tay”… Hãy nhận như chú Cận, đừng vòi vĩnh như bác Diệu. Đừng tham lam chê ít chê nhiều. Đừng sợ có đấy rồi mất đấy. Lá nhỏ ở ngoài cửa đang reo vui. Hãy phất phơ với nó. Gió biếc đang thổi vào phòng. Hãy thơm nó trên tóc. Đừng ỡm ờ “lại gần nữa thế vẫn còn xa lắm”. Nói như vậy với hạnh phúc, nó co giò chạy mất.
Tôi nghĩ có thể chấm dứt ở đây vì tôi đã nói được điều tôi muốn nói từ đầu: hạnh phúc vốn đơn sơ, ai biết thì thấy nó, và nó ở khắp nơi, cỏ cây mây nước, tiếng hót con chim, nụ cười đứa bé. Bởi vậy mà tôi đã bắt đầu với triết lý. Có một chút hiền triết trong cái nhìn, hạnh phúc lộ ra. Và không cần phải có “em” mới ban được hạnh phúc cho tôi. Nếu tôi biết ngửa tay đón nhận, con đường rơm rạ cũng ban hạnh phúc ngập hồn, đi giữa mùi phân cũng tựa như đi giữa đường thơm.

Tôi muốn chấm dứt, nhưng tôi nghĩ đến một người thứ ba, cũng làm thơ một lần với Xuân Diệu, Huy Cận, cũng học trò xứ Huế, cũng lãng mạn với văn học Pháp, cũng xã hội chủ nghĩa, cũng kháng chiến, cũng huân chương: tôi muốn nói đến Tế Hanh.
Tế Hanh là học trò cũ của cha tôi, thương quý cha tôi như tất cả học trò cũ ngày xưa ở Quảng Ngãi. Tôi gặp lại anh ở Paris năm 1990, y chang đúng lúc các nước xã hội chủ nghĩa mà anh vừa đến thăm ở Đông Âu sụp đổ tan tành trước mắt. Buổi tối, xem quang cảnh ấy trên ti vi xong, anh vẩn vơ đọc hai câu thơ của anh như để nói tâm sự gì đó:
Làm một con người khó lắm ai ơi!
Giữa những năm 80 của thế kỷ hai mươi. 

Khó đến vậy sao, anh Tế Hanh? Không đâu, bởi vì sáng hôm sau, anh hớn hở nói: “Thuần ơi, mình đọc cho Thuần nghe bài thơ này của mình, mình đã dịch ra tiếng Pháp đây này, đã đọc giữa một hội nghị thơ ở Hung và được mọi người thích lắm”. Bài thơ có nhan đề là “Hạnh Phúc”, và vì vậy mà tôi đem Tế Hanh vào đây cho vui.
Nếu không có hạnh phúc một đời
Thì tìm hạnh phúc một năm một tháng
Nếu không có hạnh phúc một năm một tháng
Thì tìm hạnh phúc một ngày một giờ

Sáng nay
Tôi tìm thấy hạnh phúc
Sau một đêm yên giấc
Tôi nhìn thấy ánh xuân về
Trên một đóa hoa tươi. 

Tế Hanh đã từng lãng mạn, đã kháng chiến, đã tập kết, đã xã hội chủ nghĩa, đã hiện thực chủ nghĩa, đã huân chương, đã ai ơi làm người khó lắm, vậy mà, ở cuối đời, anh thấy hạnh phúc như một hiền nhân ở Lý Trần Lê Mạc. Ô hay, rốt cuộc rồi ai cũng trở về với ai, ta với ta, mình với mình, Tế Hanh với Tế Hanh, linh hồn với linh hồn. Bảo làm sao tôi đừng mông lung trong triết lý vẩn vơ ở đầu buổi nói chuyện hôm nay?
Cám ơn các anh chị.

 

* * *

 

Cao Huy Thuần