Chùa Từ Đàm được khai sáng vào khoảng năm 1690, tức vào cuối thế kỷ thứ XVII, đến nay đã trên 300 năm vào thời Trịnh – Nguyễn phân tranh.

Chùa Từ Đàm từ quá khứ cũng như hiện tại đã và đang đóng góp sứ mệnh lịch sử của mình cho việc bảo tồn, phát triển Đạo pháp và Dân tộc Việt Nam. Đầu thế kỷ 20, qua các Phật sự Xã hội, Văn hoá, Giáo dục, Nghệ thuật và Kiến trúc Phật giáo chùa này trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng của cả nước, đặc biệt 13 tỉnh miền Trung. Hơn thế nữa, chùa Từ Đàm cũng là nơi in đậm các diễn biến lớn của lịch sử Phật giáo Việt Nam:

–  Chấn hưng Phật giáo vào giai đoạn 1930-1945.

–  Thống nhất Phật giáo ba miền Trung Nam Bắc năm 1951.

–  Chống kỳ thị Phật giáo dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1963.

–  Một trong 3 trung tâm vận động thống nhất Phật giáo năm 1981

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, chùa Từ Đàm đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử. Vì vậy, năm 2006 chùa đã được trùng tu quy mô hơn, rộng lớn hơn để đáp ứng các nhu cầu Phật sự cho mọi sinh hoạt của chư Tăng Ni tại Thừa Thiên – Huế và Phật tử các giới trên mọi miền đất nước.

Nhân dịp Lễ Khánh Thành chùa Từ Đàm, chúng tôi có thể giới thiệu sơ lược về Lịch sử chùa Từ Đàm, một cái nhìn thoáng qua nhưng biết được toàn cảnh, quả là việc làm không dễ gì đáp ứng đầy đủ được. Thiết nghĩ, đọc sách này cũng là cách gợi mở để quý vị có thể tìm hiểu và khảo cứu xa hơn về ngôi chùa lịch sử này.

Lịch sử hình thành

Cách đây hơn 300 năm, vào đời chúa Nguyễn Phúc Thái, trong khoảng 10 năm: từ 1683 đến 1693, thiền sư Minh Hoằng Tử Dung người Trung Hoa đã đến đồi Hoàng Long khai sơn và đặt tên chùa là Ấn Tôn tự. Đến đời vua Thiệu Trị (1841) chùa được đổi tên thành Từ Đàm tự, biển hiệu chùa hiện còn tại nhà Tổ chùa Từ Đàm. Mãi đến năm 1938, chùa Từ Đàm được chư Sơn môn nhường lại cho An Nam Phật Học Hội và tái thiết theo đồ án như ngôi chùa trước năm 2006. Trước tiền đường chùa Từ Đàm còn có biển đề An Nam Phật Học Hội – Thừa Thiên Tỉnh Hội. Vào các thập niên 50 cho đến cuối thế kỷ XX, GHPG Thừa Thiên đã kiến thiết thêm cổng chùa, nhà thiền, tăng xá, nhà khách, nhà bếp; phần khác là “giảng đường” và văn phòng Tỉnh Giáo Hội. Sau năm 2006, chùa Từ Đàm được đại trùng tu như ngôi chùa chúng ta thấy hiện nay.

Vị trí tọa lạc

Hiện nay, chùa Từ Đàm tọa lạc trên đồi thấp của dãy Hoàng Long sơn gần dốc Nam Giao, mặt quay về hướng Đông Nam, số 01 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, Thành phố Huế. Chùa cách kinh thành Huế về phía Tây Nam khoảng chừng 2 km, liên thông với đường Điện Biên Phủ về phía bên phải và phía bên trái tiếp giáp đường Phan Bội Châu đi về thành phố.

Về kiến trúc chùa Từ Đàm.

Năm 1938 chùa Từ Đàm được trùng tu theo đồ án do hoạ sư Tôn Thất Sa thiết kế. Đứng ngoài nhìn vào, có lầu chuông và trống hai bên, chính giữa là tiền đường không có cửa. Chỉ trước chính điện có ba cửa để vào Điện Phật, trên cửa giữa treo tấm biển lớn nền sơn đỏ chữ thếp vàng “Thừa Thiên Tỉnh Hội”. Chùa Từ Đàm vẫn được kiến trúc theo truyền thống, nghĩa là nóc chùa vẫn có đắp hai con rồng xoay đầu quay nhìn về mặt nã ở giữa đội pháp luân. Hai mái trên được lợp ngói âm dương. Các góc mái lợp trên và dưới đều có chạm đủ bộ tứ linh long, lân, qui, phụng được khảm sành sứ trông rất mỹ thuật. Bên trong chùa lại được kiến trúc theo kiểu chánh điện nối dọc với tiền đường, không có hậu tẩm, không có trụ cột, tạo mặt bằng rộng hơn, đơn giản hơn và kết hợp lối kiến trúc có vẽ hiện đại hơn; về sau trở thành là mô hình của các chùa Hội quán.

Sau khi triệt hạ chùa cũ, ngày 10 tháng 6 năm Bính Tuất (2006) lễ đặt đá xây dựng chùa Từ Đàm được tổ chức long trọng, có sự chứng minh của Đại lão Hoà thượng Thích Khả Tấn và chư tôn Hoà thượng giáo phẩm Giáo hội Trung ương và địa phương, cùng chư Thượng toạ, Đại đức Tăng ni, quý Phật tử ở Huế và khắp cả nước về tham dự.

Đại trùng tu chùa Từ Đàm lần này rất quy mô và kiến trúc theo kiểu “Trùng thiềm điệp ốc” như các ngôi Tổ đình xưa. Chùa có một tầng hầm rất rộng dùng để sinh hoạt các Lễ Hội của chùa. Phía trên tầng hầm; ngoài sân đi vào phải bước lên 15 cấp xen giữa một cấp chờ, vẫn thấy có lầu chuông và trống hai bên, tiền đường chính giữa tương tự như chùa cũ. Nhưng kiến trúc theo kiểu nhà rường 5 gian 2 chái, tiền đường có 5 gian có 5 bức cửa bàn khoa, bên trong có 3 dãy kết cấu theo thứ lớp: tiền đường – chánh điện – hậu tẩm, mỗi dãy có nóc mái riêng, được lợp bằng ngói âm dương rất công phu và mỹ thuật. Trên mỗi nóc của 3 dãy ấy có hai con rồng chầu, đắp bằng sành sứ. Riêng nóc của tiền đường có đắp hai con rồng hồi, quay đầu nhìn vào mặt nã đang đội pháp luân. Các góc cù giao mái trên có hình con rùa và các góc cù giao mái dưới có hình con phượng chân bước xuống, đầu quay lên, ở giữa mái trên và mái dưới có hình con lân đang chạy. Tất cả đều được đắp nổi, khảm sành sứ rất tinh tế và mỹ thuật. Dưới mái trước có năm khung chữ nhật bằng đá: khung chính giữa là bức hoành sao khắc lại theo bức hoành “Ấn Tôn Tự” của chùa xưa, còn bức hoành nguyên bản làm vào năm 1703 vẫn còn và đang được treo bên trong chánh điện. Bốn khung còn lại, mỗi bên 2 khung chạm nổi hình ảnh sự tích đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Chuông chùa Từ Đàm

1.  Chuông chùa đúc vào thời Gia Long, ngày 23 tháng 4 năm Quý Dậu (1813), đề 4 chữ Ấn Tôn Tự Chung, nặng gần 416 cân, khoảng 300kg, hiện nay được bảo lưu tại chùa Từ Đàm.

2.  Nhân dịp trùng tu lần này, vào ngày 26 tháng 7 năm Đinh Hợi (2007) chùa Từ Đàm đúc quả chuông khác, đề 4 chữ Từ Đàm Tự Chung, nặng 1500kg, tôn trí ở lầu chuông của chùa và hiện đang sử dụng.

Cách thờ tự

Cách thờ Phật ở chùa Từ Đàm cũng rất đặc biệt, gian giữa thờ tôn tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cao khoảng 1m30, hai tay đang quyết ấn Tam muội, ngồi trên toà sen. Tượng Phật và toà sen được đúc bằng đồng, do hai nhà điêu khắc Nguyễn Khoa Toàn và Nguyễn Hữu Tuân thực hiện tại chính điện chùa vào lúc 8 giờ sáng ngày rằm tháng 7 năm Canh Thìn (1940). Tượng Phật này được tạc theo dáng người Việt Nam, Phía trên tượng là bảo cái được chạm trổ rất công phu. Hai bên, mỗi bên treo một tràng phan đề danh hiệu bảy đức Phật quá khứ. Gian bên phải tượng Phật là bức phù điêu tôn tượng Bồ tát Phổ Hiền, bên trái cũng là bức phù điêu tôn tượng Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi.

Trong chánh điện có 15 bức hoành, phía trước treo 3 bức: chính giữa đề 無上醫王 ‘Vô Thượng Y Vương’, bức bên phải đề 會真如處 ‘Hội Chơn Như Xứ’, bức bên trái đề 萬德莊嚴 ‘Vạn Đức Trang Nghiêm’. Ở chính giữa phía ngoài treo bức hoành 恭賀印宗寺 ‘Cung hạ Ấn Tôn Tự’, bên phải có bức đề 佛光普照 ‘Phật Quang Phổ Chiếu’, bên trái là bức đề 行願無盡 ‘Hạnh Nguyện Vô Tận’. Và ra ngoài có 3 bức: chính giữa bức 法從斯仰 ‘Pháp Tùng Tư Ngưỡng’, bên phải bức 知苦断集‘Tri Khổ Đoạn Tập’, bức phía bên trái có bức 修道證滅‘Tu Đạo Chứng Diệt’. Phía trong nhìn ra có 3 bức, ở giữa là bức 慧日中天 ‘Tuệ Nhật Trung Thiên’, bên phải là bức là bức 慈風普扇 ‘Từ Phong Phổ Phiến’ , bên trái có bức đề 如是莊嚴 ‘Như Thị Trang Nghiêm’. Tiền đường cũng treo 3 bức hoành: bức chính giữa đề 承天省會 ‘Thừa Thiên Tỉnh Hội’, hai bên 2 bức 佛日增輝 ‘Phật Nhật Tăng Huy’  và 法輪常轉 ‘Pháp Luân Thường Chuyển’.

Nhà Tổ

Sau chánh điện, hậu tẩm tức nhà Tổ, gian chính giữa: phía ngoài thờ tôn tượng Tổ sư Bồ-đề-đạt-ma, khoảng giữa thờ di ảnh Tổ khai sơn – Minh Hoằng Tử Dung, trên khám ở phía trong thờ long vị Tổ Khai sơn và 4 long vị Thiền sư kế thừa. Gian bên phải thờ chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng quá cố có liên quan với chùa Từ Đàm. Gian bên trái thờ hương linh chư vị hội viên của Hội An Nam Phật học, chư Thánh tử đạo, chư vị Gia trưởng, huynh trưởng, các đoàn sinh quá cố của tổ chức Gia đình Phật tử và hương linh các đạo hữu của chùa. Phía trên trần nhà thờ Tổ treo 4 bức hoành: bức chính giữa từ phía ngoài nhìn vào đề 無盡燈 ‘Vô Tận Đăng’, bức từ phía trong nhìn ra đề 明佛心宗 ‘Minh Phật Tâm Tôn’, hai bên 2 bức 正法眼藏  ‘Chánh Pháp Nhãn Tạng’ và 祖印重光 ‘Tổ Ấn Trùng Quang’.

Những câu đối.

Phần nhiều các câu đối treo tại chùa Từ Đàm đều do cố Hoà thượng Trú Trì biên soạn. Tuy nhiên, vì khuôn khổ bài viết có hạn, chúng tôi chỉ nêu ra đây các câu đối có liên hệ với lịch sử của chùa, cùng thời với An Nam Phật học Hội tức chùa Từ Đàm cũ:

Hai cột trước chánh điện treo hai câu đối của Thái tử Thiếu bảo, Tôn Thất Hân đề:

楊瓶甘露一灑遍塵間三千界外普慈悲洗盡煩根曼陀作雨
– Dương bình cam lộ, nhất sái biến trần gian, tam thiên giới ngoại phổ từ bi, tẩy tận phiền căn mạn đà tác vũ. (Bình cam lồ nhánh dương, một giọt rưới trần gian, từ bi rải khắp cả ba nghìn thế giới, tẩy sạch não phiền, mưa hoa trong lòng).

蓮座香花十方依淨土百八聲中呼醉夢聽來說法頑石點頭
– Liên tòa hương hoa, thập phương y Tịnh độ, bách bát thanh trung hô túy mộng, thính lai thuyết pháp, ngoan thạch điểm đầu. (Hương hoa trên tòa sen, mười phương nương Tịnh độ, trăm lẽ tám hiệu Phật thức tỉnh người mê, trở về nghe pháp, đá cứng cúi đầu).

Phía mặt ngoài cùng của tiền đường có khắc sáu câu đối. Hai câu giữa đối hai chữ Phật học do Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám đề tặng:

佛正遍知無量壽無量光無量功德
– Phật chánh biến tri, vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng công đức  (Phật là bậc hiểu biết chân chính, rộng khắp. tuổi thọ vô lượng, trí tuệ vô lượng và công đức vô lượng).

學真實義如是聞如是思如是修持
– Học chơn thật nghĩa, như thị văn, như thị tư, như thị tu trì. (Học đúng nghĩa chơn thật là nghe đúng, suy nghĩ đúng và thực hành đúng).

Hai câu kế do cụ Huỳnh Thúc Kháng đề tặng:

隨塵逐影我法橫生迷流究竟妄成貪瞋癡慢有漏業
– Tùy trần trục ảnh, ngã pháp hoạnh sinh, mê lưu cứu cánh vọng thành tham sân si mạn hữu lậu nghiệp. (Theo trần dính với cảnh mà sinh chấp pháp – chấp nhân, sự mê mờ đó tạo nên các nghiệp hữu lậu: tham, sân, si, mạn)

絕相旋根自他不隔覺性本來具足慈悲喜捨無量心
– Tuyệt tướng triền căn, tự tha bất cách, giác tánh bổn lai cụ túc từ bi hỷ xả vô lượng tâm. (Dứt hết các tướng phan duyên, các căn tự tại, mình với người không còn ngăn ngại thì tính giác xưa nay vốn đầy đủ 4 tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả).

Hai câu ngoài cùng là của cụ Phan Bội Châu đề tặng:

業緣萍合年年白髮催對面即空寧把韶花付流水
– Nghiệp duyên bình hợp, niên niên bạch phát thôi, đối diện tức không, ninh bả thiều hoa phó lưu thủy. (Thân người như bèo hợp, mỗi năm tóc bạc thêm, trước mặt chỉ là không, sao luống để tuổi xuân theo dòng nước).

世事棋分處處黃梁夢回頭是岸願翻貝葉出優曇
– Thế sự kỳ phân, xứ xứ hoàng lương mộng, hồi đầu thị ngạn, nguyện phiên bối diệp xuất ưu đàm (Việc đời rối như bàn cờ, nơi nơi đều mộng ảo, quay đầu là bến, nguyện dịch kinh Phật để tỏa ngát hương ưu đàm).

Tiểu sử Tổ khai sơn

Văn bia Thiền sư Liễu Quán, khai sơn chùa Thiền Tôn còn cho biết thêm, Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung là người dạy về yếu chỉ của Thiền tông rất hiệu quả. Chính Thiền sư Liễu Quán đã được Ngài dạy tham công án “vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ” (muôn pháp về một, một về chổ nào) và đã được Ngài truyền tâm ấn chứng để sau này trở thành vị Tổ có dòng thiền long thịnh rực rỡ khắp toàn cõi Nam Hà.

Hiện nay tháp của Tổ sư Minh Hoằng Tử Dung được di về vườn chùa Báo Quốc. Tháp Tổ được xây theo hình bát giác, gồm 5 tầng, cao 4m10, chính diện tháp quay về hướng Nam. Lòng bia tháp ghi: “Truyền Lâm Tế chánh tông đệ tam thập tứ thế thượng Tử hạ Dung húy Minh Hoằng Đại lão Hòa thượng chi tháp”. gần Tháp Tổ là bốn ngôi tháp của bốn vị Thiền sư kế thế, trú trì và trùng hưng Tổ đình Từ Đàm: Thiền sư Thật Vinh Bửu Hạnh, Thiền sư Tế Ngữ Chánh Dõng, Thiền sư Đạo Trung Trọng Nghĩa và Thiền sư Thanh Hiệp Tường Vân.

Thiền Đường

Đối diện với nhà Tổ là nhà thiền, tại đây, ngay cửa giữa phía trong có treo bức hoành đề “Từ Đàm tự”, lạc khoản “Thiệu Trị nguyên niên tam nguyệt”, tức tháng 3 năm 1941. Bên trong gian giữa ở trước thờ long vị và sau thờ di ảnh cố Hòa thượng trú trì – Thích Thiện Siêu (1921-2001). Gọi nhà này là thiền đường, vì nó như một ngôi nhà Lưu niệm, để kính nhớ về Ôn Từ Đàm, bậc Thiền sư xuất chúng đã từng sống, viết sách, dịch kinh và khuyên dạy tứ chúng đệ tử tại thiền đường cũ giống như nhà này.

Năm 1947, Hòa thượng Thích Thiện Siêu được Hội An Nam Phật học cung thỉnh giữ chức Trú trì Tổ đình Từ Đàm. Trong suốt thời gian ấy cho đến ngày viên tịch, Ngài luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Tăng Ni và Phật tử. Ngay từ thập niên 1950, lúc còn làm Chánh hội trưởng Phật giáo Thừa Thiên, Ngài đã cùng với chư Tôn đức lãnh đạo giáo hội cho thành lập các Khuôn Hội và Niệm Phật Đường khắp nơi trong tỉnh để làm nơi tu học cho các giới Phật tử tại gia. Vào thập niên 1980, Ngài đã cùng với Hoà thượng Minh Châu đứng ra vận động thành lập trường Trung cấp Phật học và Cao Cấp Phật Học để đào tạo Tăng tài cho Phật giáo. Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế hiện nay cũng do Ngài sáng lập. Sau khi Hòa thượng Thích Thiện Siêu viên tịch, nhân ngày lễ đại tường của Ngài, Ban Trị sự GHPG Tỉnh Thừa Thiên – Huế đã cung cử Thượng tọa Thích Hải Ấn, đệ tử của Hòa thượng Thích Thiện Siêu đảm nhiệm chức trú trì Tổ đình Từ Đàm.

Chứng tích bảo vệ đạo pháp

Tại chùa Từ Đàm cũng là nơi mà có một vị Thánh tử đạo lấy làm nơi để thực hiện tâm nguyện cho công cuộc bảo vệ đạo pháp của mình đó là Hoà thượng Thích Tiêu Diêu.

Hoà thượng Tiêu Diêu thế danh Đoàn Mễ, sinh năm Nhâm Thìn (1892) tại An Truyền Phú Vang Thừa Thiên. Năm Canh Ngọ (1930) Ngài đã xuất gia thọ giáo với Hoà thượng Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân và được ban Pháp danh là Tâm Nguyện tự Tiêu Diêu. Năm đó ngài đã trải qua 39 tuổi đời.

Năm 1963, Hòa thượng Thích Tiêu Diêu đã tự thiêu ngay tại sân chùa Từ Đàm lúc 4 giờ ngày 16 tháng 8 năm 1963 để bảo vệ đạo pháp, cầu nguyện cho Phật pháp được trường tồn. Bên cạnh đó, Hoà thượng mong muốn chính quyền Ngô Đình Diệm chấm dứt chính sách kỳ thị Phật giáo.

Sau khi hoàn tất sứ mạng, ngài trụ thế 71 tuổi đời, với 32 tuổi đạo, để lại lịch sử đấu tranh của Phật giáo nét son vĩnh cửu của một bậc vị pháp thiêu thân hiến dâng cho sự nghiệp chung của Đạo pháp.

Tượng Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám

Từ ngoài đi vào thiền đường, hết tầng cấp ta thấy có tượng bán thân Bác sĩ Lê Đình Thám, pháp danh Tâm Minh. Tượng được tạc bằng cẩm thạch sơn màu xanh ngọc.

Bác sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám sinh năm 1897 tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Lúc nhỏ được phụ thân dạy học chữ Hán. Lớn lên cụ theo học các trường chữ Pháp và trường Quốc Học (Huế), Y khoa Đại học đường (Hà Nội). Cụ đỗ thủ khoa ngành Y sĩ Đông Dương năm 1916, đỗ Bác sĩ Y khoa tại Pháp năm 1930. Sau đó về làm trưởng Viện bào chế & vi trùng học Pasteur tại Huế. Trong thời gian này, cụ tìm đến học đạo với Thiền sư Giác Tiên – Khai sơn Tổ đình Trúc Lâm và trở thành một cư sĩ uyên thâm Phật học lẫn thế học, có lòng tin Tam Bảo kiên cố và hộ pháp rất đắc lực.

Cụ đã dịch bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm, giáo thọ Phật Học Đường Tây Thiên và Kim Sơn – Huế, đã có công trong phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Trung những năm 1930-1945, và là người sáng lập Gia đình Phật tử Việt Nam hiện nay. Bác sĩ từ trần lúc 10 giờ ngày 7 tháng 3 năm Kỷ Dậu (23/4/1969).

Cây Bồ đề

Cây Bồ Đề tại chùa Từ Đàm có nguồn gốc từ Ấn Độ, nơi đức Phật thành đạo, được trồng sớm nhất tại Việt Nam. Vào thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch, khi được cử thỉnh Tam tạng giáo điển truyền ra nước ngoài, Thái tử Mahinda, con vua Asoka (A Dục) đã đem giống cây này sang trồng tại Sri Lanka (Tích Lan). Về sau, Đại đức Narada, người Tích Lan lại lấy giống cây này sang tặng hội Phật học Trung phần và trồng tại đây, nhân dịp Ngài cùng với phái đoàn Phật giáo Cambodia do bà Kapelès làm trưởng phái đoàn sang thăm Thuận Hóa – Huế vào năm 1939.

Tháp Ấn Tôn

Tháp Ấn Tôn được tôn trí bên góc trái cổng Tam Quan của chùa từ ngoài nhìn vào, gần đường Điện Biên Phủ. Tháp được xây dựng theo hình tháp bát giác, đáy tháp rộng 100m2, cao 27.5m, trừ tầng trệt, có 7 tầng cao và càng lên cao càng nhỏ dần, trong 7 tầng ấy thờ 7 vị Phật quá khứ được đúc bằng đồng: Từ trên xuống, tầng 1 – thờ đức Phật Tì Bà Thi; tầng 2 – thờ đức Phật Thi Khí; tầng 3 – thờ đức Phật Tì Xá Phù; tầng 4 – thờ đức Phật Câu Lưu Tôn; tầng 5 – thờ đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni; tầng 6 – thờ đức Phật Ca Diếp; tầng 7 – thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Văn phòng Tỉnh Giáo Hội, Giảng đường và nhà Tăng

Đối diện với tháp Ấn Tôn, bên phải cổng Tam Quan của chùa từ ngoài nhìn vào là Giảng đường và văn phòng Tỉnh Giáo Hội. Toà nhà xây cao 3 tầng. Tầng hầm ở dưới, tầng giữa là Văn phòng tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Thừa Thiên Huế. Tầng trên cùng là giảng đường và để đa dụng cho mọi Phật sự khác như: tổ chức triển lãm, hội nghị, diễn giảng, tu Bát Quan trai…

Một toà nhà khác tiếp giáp với giảng đường là nhà Tăng, toà nhà này có 2 tầng, mỗi tầng có nhiều phòng nhỏ để ở, dành riêng cho chúng tăng của bổn tự.

Văn phòng Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử

Bên góc đường Phan Bội Châu và Sư Liễu Quán có một toà nhà lầu 2 tầng, dùng để làm Văn phòng Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử tỉnh Thừa Thiên Huế, có một thư quán và cũng là nơi sinh hoạt của đoàn sinh Gia Đình Phật Tử chùa Từ Đàm.

Vị trí trong truyền thống thiền tôn:

Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, lần đầu tiên thiền sư Liễu Quán tìm đến học đạo với ngài Giác Phong Lão Tổ ở Báo Quốc, sau khoảng hơn mười năm, Ngài đến chùa Thiền Lâm thọ Sa-di với Thạch Liêm Hòa thượng (1695), hai năm sau, Ngài lên Từ Lâm xin thọ Cụ túc giới với Từ Lâm Lão Tổ (1697). Khi đã trở thành Tỳ-kheo, Ngài đến cầu học với Tổ Minh Hoằng – Tử Dung ở chùa Ấn Tôn (1699). Năm Nhâm Ngọ (1702) Tổ trao công án cho Ngài tham: “Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ” (萬法歸一一歸 何處). Mười năm sau, vào mùa hạ năm Nhâm thìn (1712) chư Tăng hai xứ Thuận Quảng (tức 2 tỉnh Thuận Hoá và Quảng Nam) về an cư kiết hạ tại Thiền Lâm viện, cung thỉnh Tổ Minh Hoằng Tử Dung làm thiền chủ. Trong kỳ an cư kiết hạ này, Thiền sư Liễu Quán trình kệ “Dục Phật” được Tổ ấn khả, truyền tâm ấn và được kế truyền theo pháp kệ của tổ Minh Hoằng – Tử Dung, để có pháp danh là Thật Diệu, và pháp hiệu là Liễu Quán.

Chính giờ phút này đạo mạch thuộc Ấn Tôn Từ Đàm tự ở Hoàng Long Sơn đã được trao truyền từ sơ Tổ Minh Hoằng – Tử Dung đến đệ nhị Tổ Liễu Quán. Sau đó , Tổ sư Liễu Quán đã hoằng truyền giáo pháp và biệt xuất một dòng kệ 48 chữ:

“THẬT TẾ ĐẠI ĐẠO
TÁNH HẢI THANH TRỪNG
TÂM NGUYÊN QUẢNG NHUẬN
ĐỨC BỔN TỪ PHONG…”

Như vậy, Tổ đã phát huy đạo mạch Phật pháp trên dải đất Nam Hà, suốt từ Thuận Hóa vào Nam, từ thế kỷ thứ XVIII đến nay.

Tổ sư Liểu Quán đã khai sơn chùa Thuyền Tôn, một Tổ đình lớn từ thời Lê Cảnh Hưng (1708). Đến mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742) tại chùa Viên Thông, Tổ đã khai bốn đại giới đàn truyền giới cho hàng vạn tín đồ. Trong số theo tu học với Tổ, có 49 vị đệ tử đắc pháp. Những vị này đã vân du hóa đạo khắp các tỉnh, từ Huế vào tận vùng đất mới của Chăm-pa. Riêng tại Huế, sau khi Tổ Liễu Quán viên tịch vào mùa thu năm Nhâm Tuất (1742), có 2 đệ tử là Tế Mẫn – Tổ Huấn và Tế Hiển – Trạm Quang ở lại Tổ đình Thiền Tôn. Có 3 vị đến chùa Báo Quốc là Tế Ân – Lưu Quang, Tế Nhơn – Hữu Bùi và Tế Hiệp – Hải Điện. Sau ngài Tế Nhơn đã cùng với ngài Từ Chiếu vào Phú Yên. Riêng tại Huế ngài Tế Mẫn Tổ Huấn có hai đệ tử đắc pháp là ngài Đại Huệ – Chiếu Nhiên và ngài Đại Nghĩa Trí Hạo. Ngài Đại Huệ – Chiếu Nhiên truyền xuống cho hai đệ tử là Đạo Minh – Phổ Tịnh, được bà Hiếu Khương Hoàng Thái Hậu mời ra trú trì Tổ đình Báo Quốc được đổi tên là Hàm Long Thiên Thọ Tự; Và ngài Đạo Tâm – Trung Hậu ở lại Tổ đình để duy trì đạo mạch của Tổ.

Từ ngài Đạo Minh Phổ Tịnh truyền xuống rất nhiều đệ tử đắc pháp, nổi danh nhất là ngài Tánh Thiên – Nhất Định khai sơn An Dưỡng Am – Từ Hiếu Tự. Tổ Tánh Thiên Nhất Định có 3 đệ tử sáng chói là các ngài Hải Thuận – Lương Duyên, Hải Thiệu – Cương Kỹ, Hải Toàn – Linh Cơ. Hằng trăm ngôi chùa Huế hiện nay, kể cả những ngôi chùa làng được tái thiết, đều do đệ tử hoặc pháp điệt của ba ngài này khai sơn, trùng kiến, hoặc kế thế trú trì, làm cho Phật giáo Huế long thịnh rực rỡ. Kể từ đó nhiều thế hệ Tăng sĩ hiện nay đều có pháp húy theo dòng kệ của Tổ Liễu Quán, và đều hoằng hóa giáo pháp Lâm Tế: Tử Dung – Liễu Quán, vốn phát tích từ chùa Ấn Tôn – Từ Đàm này. Lần thứ nhất chùa Từ Đàm đã có vai trò trọng yếu trong việc làm phát sinh cả một Pháp phái của người Đại Việt ở Nam Hà vậy.

Vị trí trung tâm trong phong trào chấn hưng Phật giáo

Phong trào chấn hưng Phật giáo đồng loạt dấy lên khắp cả nước:

– Năm 1931, Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật Học thành lập, và đầu năm 1932, Hội này cho ra đời báo Từ Bi Âm làm cơ quan ngôn luận để phát động phong trào chấn hưng.

– Năm 1932, An Nam Phật Học Hội ra đời tại Huế, gồm có 5 vị Trưởng Lão Hòa Thượng, Hòa thượng Giác Tiên là vị đứng đầu, và 17 vị cư sĩ mà B.S Tâm Minh – Lê Đình Thám là người đứng đầu, năm 1933 hội cho ra đời tạp chí Viên Âm để làm cơ quan ngôn luận truyền bá đạo Pháp theo đường hướng mới.

– Năm 1934 Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập và năm 1935, Hội cho xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ làm cơ quan ngôn luận theo hướng chấn hưng Phật giáo.

Một sự kiện đáng nhớ là từ năm 1938 cho đến 1944, Vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày 27 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 13, nhằm ngày 18 tháng 12 năm 1938, An Nam Phật Học Hội làm lễ đặt đá để trùng tu chùa Từ Đàm mà hồi đó gọi là chùa Hội quán Hội Phật Học Thừa Thiên tức trụ sở An Nam Phật Học Hội.

Vai trò của Chùa Từ Đàm năm 1938 là nơi tiếp tục phát huy lý tưởng chấn hưng Phật giáo cho cả 13 tỉnh miền Trung. Đặc biệt, hai Nho gia Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu là những chí sĩ yêu nước, lúc bấy giờ cũng đã nhiệt tình cổ vũ cho công cuộc chấn hưng Phật giáo. Kết quả là khắp miền Trung có đến 10 tỉnh Hội, 30 chi Hội và 1000 Khuôn Hội Tịnh độ và Niệm Phật Đường.

Về phương diện văn hoá – xã hội, Hội Phật Học đã thiết lập Phật Học Đường từ 1932, xuất bản tạp chí Viên Âm (1933); lập Phật Học Tùng thư tại chùa Từ Đàm để phát hành, soạn và in ấn Kinh sách (1938) và đi diễn giảng lưu động. Đặc biệt là Ni trường được hình thành tại chùa Từ Đàm vào năm 1932, sau đó chuyển về chùa Diệu Đức. Sư bà Diệu Hương làm Giám đốc trường này từ ngày đầu.

Phong trào chấn hưng Phật giáo lập một Tổng Hội, đặt trụ sở tại chùa Từ Đàm, và mỗi tỉnh có Ban Trị Sự Tỉnh Hội, mỗi năm về họp tại chùa Từ Đàm Huế một lần để bầu Ban Trị Sự Tổng Hội. Rõ ràng Tổng Hội và chùa Từ Đàm đã đóng góp vai trò lịch sử của mình cho công cuộc chấn hưng Phật giáo trong quá khứ cũng như Phật giáo – Huế hiện nay.

Vai trò thống nhất Phật giáo – Bắc Trung Nam

Năm 1951, Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam diễn ra tại chùa Từ Đàm. Đây là Hội nghị lớn có tầm quan trọng cho sự tồn vong của đạo Phật Việt Nam. 51 đại biểu của sáu tập đoàn Tăng già và Cư sĩ cả nước tham dự và làm việc trong bốn ngày; lại có hơn 300 Phật tử gồm có nhiều vị trong Giáo Hội Tăng Già Sơn Môn về dự thính. Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên lo sắp xếp nơi ăn, chốn ngủ, nơi làm việc từng tiểu ban, sảnh đường Đại Hội và lo chương trình nhiều khóa lễ tại chùa Từ Đàm trong thời gian Đại Hội.

Sau thời gian bàn thảo, toàn Hội nghị thống nhất ý kiến và đưa ra Quyết nghị như sau:

Hôm nay tại chùa Từ Đàm (Thuận Hóa) ngày 01, 02, 03, 04, 05 tháng Tư Phật lịch 2514 tức là ngày 6, 7, 8, 9, 10 tháng Năm, 1951 “Chúng tôi Đại biểu của các tập đoàn Phật Giáo: Tăng già Bắc Việt, Tăng già Trung Việt,  Tăng già Nam Việt, Hội Việt Nam Phật Giáo Bắc Việt, Hội Việt Nam Phật Học Trung Việt, Hội Phật Học Nam Việt; đồng công nhận Bản Điều Lệ Hội Phật Giáo Việt Nam và biểu hiện sự thống nhất PGVN. Để thực hiện bản Điều Lệ ấy, chúng tôi cùng nhau quyết nghị những khoản sau:

Khoản I. Cùng nhau lập một Tổng Hội, lấy tên là Hội Phật Giáo Việt Nam.

Khoản II.  Cung thỉnh một ban chứng minh gồm có:
1. Hòa thượng Mật Ứng và Hòa thượng Tuệ Tạng (Bắc Việt)
2. Hòa thượng Giác Nhiên và Hòa thượng Giác Tiên (Trung Việt)
3. Hòa thượng Tuệ Chân và Hòa thượng Đạt Thanh (Nam Việt)

Khoản III. Bầu một Ban Quản Trị Trung Ương gồm có:
1. Hội chủ: Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.
2. Phó hội chủ: Thượng tọa Trí Hải và Đạo hữu Lê Văn Định.
Tổng thư ký và 2 Phó thư ký; 1 Chưởng quỹ và 1 Kiểm lý ngân sách, 8 Ủy viên và 3 Ủy viên dự khuyết (tên và chức vụ lược bớt).

Khoản VI.  Gia nhập Hội Phật giáo Thế giới.

Nhờ vào kết quả Đại Hội, Phật giáo khắp mọi miền đất nước đã sinh hoạt rất có qui cũ và chặt chẽ; lá cờ Phật giáo có 5 màu rực rỡ được tung bay; Từ đó, văn phòng Ban Quản Trị Trung Ương của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam đóng trụ sở tại chùa Từ Đàm Huế.

Vai trò bảo vệ Đạo Pháp 

Một lần nữa, chùa Từ Đàm đã đóng góp vai trò bảo vệ đạo pháp. Mặc dù sự kiện này tuy xảy ra trong thời gian ngắn, nhưng làm đảo lộn cả một thể chế chính trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, khiến mọi người trên Thế giới phải suy nghĩ.

Vào ngày Phật Đản năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm từ Sài gòn điện ra khẩn cấp, buộc dân Huế hạ cờ Phật giáo; sự việc xảy ra vào chiều ngày 07-05-1963. Sáng hôm sau Phật giáo đồ Huế tập trung về dự lễ Phật Đản tại chùa Từ Đàm. Tối hôm đó (08-05-1963) xảy ra cuộc đàn áp đồng bào Phật tử một cách dã man tại đài Phát thanh Huế.

Ngày 10-05-1963 các vị Lãnh đạo Phật giáo họp tại chùa Từ Đàm, lên kế hoạch để tranh đấu bảo vệ Phật giáo và đòi quyền bình đẳng xã hội. Một bản Tuyên Ngôn được soạn thảo, nêu ra năm nguyện vọng của Phật giáo đồ. Bản Tuyên Ngôn này được gởi tới Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ngày 15-05-1963 tại chùa Từ Đàm, một Bản phụ đính của Tuyên Ngôn 10-05-1963 được công bố. Ngày 25-05-1963 cũng tại chùa Từ Đàm, một Phụ trương của Bản Phụ đính được công bố, dưới tờ phụ trương có chử ký của Đại diện 5 cấp Trị sự Phật giáo: Toàn Quốc, Trung Phần, Thừa Thiên.

Từ đó, cuộc đấu tranh bảo vệ Đạo Pháp chuyển vào Sài gòn và đặt trung tâm tại chùa Xá Lợi. Khởi đi từ chùa Từ Đàm Huế, lan đến Sài gòn, Thủ đô của chế độ Ngô Đình Diệm, sau đó lan ra thế giới. Lúc đầu chỉ có Phật giáo đồ làm lễ với Chư Tăng tại chùa Từ Đàm, sau lan đến quần chúng: tiểu thương, binh lính; cuối cùng chuyển đến các trường Trung học và Đại học và trở thành cuộc đấu tranh của sinh viên toàn quốc, đòi quyền bình đẳng và tự do tín ngưỡng. Tuy nhiên, chính phủ Diệm vẫn tiếp tục đàn áp các chùa chiền, bắt bớ và giam cầm chư tăng và đồng bào Phật tử vô tội. Điều đó khiến toàn dân, toàn quân nổi dậy, lật đổ luôn chế độ Ngô Đình Diệm vào ngày 01-11-1963.

Qua các biến cố trọng đại ấy, chùa Từ Đàm đã trở thành trung tâm của mọi người con Phật; vì vậy khi nói đến Phật giáo xứ Huế người ta thường nghĩ đến nơi đây như là một trung tâm của Phật giáo, thậm chí có người còn cho Huế là trái tim của Phật giáo Việt Nam.

Kết luận 

Từ khi Tổ Minh Hoằng – Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tôn, vừa tiếp bước đạo mạch chư Tổ, vừa bảo tồn, vừa phát huy Phật giáo xứ Huế, thậm chí cả Phật giáo miền Trung, Tùy cơ duyên khế hợp đối với từng thời đại, chùa Từ Đàm đã vận dụng lời dạy của Phật Tổ: ‘tuỳ duyên bất biến’ để truyền bá giáo pháp Phật-đà, làm lợi lạc quần sanh. Bởi vậy, nhìn theo góc độ tùy duyên bất biến ấy, ta thấy vai trò của chùa Từ Đàm thật hệ trọng đối với mạng mạch Phật giáo Thừa Thiên Huế nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung.

Do đó, lịch sử của ngôi chùa Từ Đàm này thật đa dạng và có ý nghĩa rất phong phú, hy vọng những gì ở đây có thể giúp bạn đọc có cơ sở tìm thấy trong các công trình nghiên cứu lớn hơn. Do đó, chúng tôi xin dẫn một câu trong bài viết của tác giả Cao Huy Thuần đăng trong tạp chí Văn hoá Phật giáo số 20 ngày 30 tháng 9 năm 2006, để thay lời kết rằng: “Ai nghe trong tiếng chuông Từ Đàm sẽ thấy mây bay ba trăm năm trước, trăng tròn Phật đản ba trăm năm sau, và tiếng gió đong đưa trong lá cây bồ đề trước sân, như gieo tiếng an vui vào lòng mọi người. Từ Đàm thay đổi để Từ Đàm còn mãi.”