Ngưỡng bạch Tổ sư Lâm Tế Tông tam thập ngũ thế Húy thượng Thiệt hạ Diệu Hiệu Liễu Quán thùy từ pháp giám.

Hôm nay, ngày 18 tháng 11 năm Nhâm Thìn tức ngày 30 tháng 12 năm 2012, chúng con lại một lần nữa vân tập về miền Thánh địa nầy; nơi đã tàng ẩn sắc thân của một bậc Thánh Tăng, và cũng chính nơi đây, gần 3 thế kỷ trước, chiếc hồ nước trong xanh dưới chân đồi đã in dấu độc cư tịch tịnh của Tổ sư, rừng thông già rợp bóng đã là mái thiền thất hùng vĩ uy nghiêm của một thời nơi mãnh đất linh thiêng này Tổ sư đã nhiều ngày đêm tư duy thiền tọa.

(Hòa thượng Thích Hải Ấn đang cung kính tuyên đọc Tiểu sử Tổ sư Liễu Quán trước Bảo Tháp)
Kính lạy Tổ sư !
Chúng con thật bồi hồi xúc động khi mỗi lần tự thân được trở về nơi cội nguồn. Trước Bảo tháp cổ kính trang nghiêm, chúng con chí thành đãnh lễ Tổ sư, cúi xin Ngài cho phép chúng con được ôn lại đôi nét về cuộc đời Ngài, như một công phu để tự nhắc nhở mình luôn huân tu trong muôn một phẩm hạnh mà Ngài đã thị hiện.
Kính lạy Giác linh ngài !
Lịch sử, hành trạng của đời Ngài vượt ngoài tầm hiểu biết của kẻ phàm nhân, thì làm sao chúng con dám ghi lại được thực tại sinh động siêu việt ấy ! Nhưng với niềm chí kính, trở về nương tựa; từ trước, chư vị tiền bối của chúng con cũng đã từng bao phen tuyên lại bằng cảm niệm tri ân. Hôm nay, chúng con cũng lại kính cẩn phỏng theo, cúi xin Ngài từ bi lượng giám!
Ngược dòng thời gian trước đây gần 3 thế kỷ; nơi vùng đất nằm giữa đèo Cù Mông hiểm trở đến đèo Cả cheo leo, lưng vững tựa vào dãy Trường Sơn trùng điệp của miền Trung và nhìn ra Thái Bình Dương bát ngát mênh mông, những rừng dừa xanh mát nối liền từ núi cao đến biển rộng, chính nơi đó Tổ sư đã thác sinh vào trần thế.
Tổ sư ra đời vào giờ Thìn ngày 13 tháng 11 năm Đinh Mùi (1667) tại làng Bạc Mã huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên (nay là làng An Thạch huyện Tuy An Phú  Yên), trong một gia đình thuần lương chất phác. Mồ côi mẹ năm lên sáu, nhưng Ngài lại muốn vào chùa tu tập nên được thân phụ dẫn đến bái yết Hòa thượng Tế Viên chùa Hội Tôn, xin cho xuất gia học đạo. Trong thời gian tu học tại đây, Ngài là một Đạo đồng thông minh chăm chỉ, tuy còn là một chú tiểu ngây thơ chất phác, nhưng bên trong mang sẵn bản hoài của một vị Bồ tát hóa thân, một hạnh nguyện của bậc Thánh Tăng xuất thế. Với trí tuệ siêu việt, ý chí kiên cường, đức tin dõng mãnh, Ngài chững chạc bước vào đời sống của bậc xuất trần thượng sĩ.
Sau 7 năm Ngài chuyên lo tu học tinh cần, thường thân cận hầu hạ Bổn sư không nài hà khó nhọc. Chưa được trưởng thành trong sự nghiệp tu hành, thì không may đấng sư phụ của Ngài viên tịch. Ngài lo cư tang và trai tuần để tỏ lòng hiếu kính ân sư. Sau đó, với chí nguyện nhiệt thành hăng say trên bước đường tìm cầu chân lý. Ngài không ngại núi sông cách trở, đèo ải nguy nan, đã quyết chí vượt núi băng ngàn tìm Thầy học đạo. Lúc ấy, Ngài đã một mình một bóng vượt mọi khó khăn đường xa nguy hiểm ra tận Thuận Hóa, đến núi Hàm Long chùa Thiên Thọ (tức Báo Quốc ngày nay) yết kiến Giác Phong Lão Tổ cầu xin thọ giáo. Ngài theo tu học ở đây nhiều năm, đến năm Tân Mùi (1691) được tin thân phụ đau yếu, Ngài xin trở lại quê nhà để phụng dưỡng phụ thân. Hằng ngày lên núi đốn củi đem về đổi gạo nuôi cha. Ngài sống như vậy thấm thoát trải 4 năm, tận tình hiếu đễ và rồi thân phụ qua đời; Ngài đã lo toan mọi sự trai tuần siêu độ cho cha già sớm tiêu diêu Tịnh cảnh. Khi chữ hiếu đã tròn, qua năm Ất Hợi (1695) Ngài lại trở ra Thuận Hóa, thọ Sa-di giới với Ngài Thạch Liêm tại giới đàn chùa Thiền Lâm. Hai năm sau, tức năm Đinh Sửu (1697) Ngài thọ cụ túc giới với Đại lão Hòa thượng Từ Lâm. Đến năm Kỷ Mão (1699) Ngài bắt đầu tham lễ khắp chốn thiền lâm, chịu bao thử thách gian khó, nếm đủ mùi đạm bạc đắng cay, trải hơn 3 năm. Năm Nhâm Ngọ (1702) Ngài đến núi Hoàng Long bái yết Hòa thượng Tử Dung (tức Tổ khai sơn chùa Từ Đàm hiện nay), được hòa thượng thâu nhận và dạy Ngài tham quán thoại đầu: “Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ ?(萬 法 歸 一 一 歸 何 處 ?)” (Muôn pháp về một, một về chỗ nào ?). Ngài lãnh thọ yếu chỉ Thoại đầu rồi vào núi Thiên Thai chuyên tâm tu luyện, tham cứu ròng rã bảy năm trường nhưng vẫn chưa tỏ ngộ. Ngài tự cảm thấy hỗ thẹn nên càng tinh tấn thiền định tham quán thoại đầu. Một hôm nọ, nhân đọc “Truyền Đăng Lục” đến câu: “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ (指 物 傳 心 人 不 會 處)” (chỉ vật truyền tâm, người không hiểu được) tâm ngài bổng nhiên bừng sáng. Mùa Xuân năm Mậu Tý (1708) Ngài trở lại Hoàng Long Sơn cầu Hòa thượng Tử Dung ấn chứng. Ngài đem chỗ công phu của mình tuần tự thuật lại: Sự duyên tỏ ngộ với câu: “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ ? (指 物 傳 心 人 不 會 處)”.
(Chư Tăng Ni đang thành tâm dâng hương cúng dường Tổ sư tại Bảo Tháp) 
Hòa thượng Tử Dung liền nói:
              “Huyền nhai tán thủ, tự khẳng thừa đương,
               Tuyệt hậu tái tô, khi quân bất đắc.”
       (懸 崖 撒 手 自 肯 承 當; 絕 後 再 甦 欺 君 不 得)
Tạm dịch:“Ra nơi hố thẳm buông tay,
Lao mình nhảy xuống hiểm nguy cam đành;
Chết đi sống lại chính mình,
Không còn ai kẻ dối khinh được nào ?”
Ngài vỗ tay cười lớn, Hòa thượng Tử Dung nói: “Chưa nhằm” rồi bỏ vào phòng riêng không nói gì nữa.
Ngài lặng lẻ xuống Tăng phòng.
Hôm sau, Hòa thượng Tử Dung gọi Ngài đến bảo rằng: “chuyện ngày hôm qua chưa xong, nay nói lại thử xem”. Ngài nói: “Tảo tri đăng thị hỏa, phạn thục dĩ đa thì (早 知 燈 是 火 飯 熟 已 多 時)” (sớm biết đèn là lửa, cơm chín đã lâu rồi).
Hòa thượng Tử Dung khen ngợi chỗ khế ngộ của Ngài.
Năm Nhâm Thìn (1712) nhân khi Hòa thượng Tử Dung trong một dịp sách tấn quảng nhiếp toàn viện. Ngài lại trình Hòa thượng bài kệ Dục Phật. Xem kệ xong, Hòa thượng đặt cho ngài câu hỏi: “Tổ tổ tương truyền, Phật Phật thọ thọ, vị thẩm truyền thọ cá thậm ma ? (祖 祖 相 傳 佛 佛 授 受。未 審 傳 受 個 甚 麼)” Nghĩa là: “Tổ Tổ truyền cho nhau, Phật Phật trao cho nhau, không biết các Ngài truyền trao cái gì ?”
Ngài đáp:  “Thạch duẩn trửu điều trường nhất trượng,
Qui mao phất tử trọng tam cân”.
(石 笋 抽 倏 長 一 丈; 龜 毛 拂 子 重 三 斤)
Nghĩa là: “Măng đá mọc lên cao một trượng, Phủ phất lông rùa nặng 3 cân”.
Hòa thượng Tử Dung nói tiếp: “Cao cao sơn thượng hành thuyền,
Thâm thâm hải để tẩu mã”.
(高 高 山 上 行 船;
深 深 海 底 走 馬)
Dịch rằng: “Lung linh nước chảy qua đèo,
Ngựa đua dưới nước, thuyền chèo trên non”.
Ngài lại đáp: “Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống,
Một huyền cầm tử tận nhật đàn.”
(折 角 泥 牛 徹 夜 吼;
沒 弦 琴 子 盡 日 彈)
Dịch rằng:“Trâu đất gảy sừng thâu đêm rống,
Đờn cầm dây đứt suốt ngày rung.”
Sau khi đã mở được những chuổi khóa siêu tuyệt qua lối đối đáp trực ngôn, Ngài đã được Hòa thượng Tử Dung ấn chứng là bậc siêu việt và có ý nguyện phi thường.
Từ đó Ngài chu du nhiều nơi để hoằng dương Chánh pháp, hết Thuận Hóa đến Phú Yên, hết Phú Yên Ngài lại trở ra Thuận Hóa. Rồi Ngài lại tục kệ truyền thừa: “Thật tế đại đạo, Tánh hải thanh trừng (實 濟 大 道, 性 海 清 澄 …) …” dựng nên Pháp phái Thiền tông “Tử Dung – Liễu Quán” để cho đạo mạch được trường lưu. Hầu hết Tăng Ni Phật tử miền Trung và một số tỉnh ở Miền Nam đều thuộc dòng thiền Pháp phái nầy.
Đến mùa Xuân năm Nhâm Dần (1722) Ngài về trú ở am Thiên Thai, tức Tổ đình Thiền Tôn bây giờ. Trong những năm Quý Sửu, Giáp Dần, Ất Mão (1733, 1734, 1735) Ngài mở 4 Đại giới đàn theo lời thỉnh cầu của hàng xuất gia, các quan viên hộ pháp cũng như thiện tín Phật tử. Năm Canh Thân (1740) sau khi truyền giới tại giới đàn Long Hoa, Ngài trở về thảo am.
Đương thời, Chúa Nguyễn cảm phục đạo đức và danh tiếng của Ngài, nên đã triệu thỉnh Ngài vào cung nhưng Ngài chỉ muốn an nhàn tự tại ở chốn thiền lâm nên đã nhẹ nhàng từ tạ lời thỉnh cầu mà không đến.
Mùa Xuân năm Nhâm Tuất (1742) Ngài mở Đại giới đàn tại chùa Viên Thông. Vào cuối Thu năm ấy, Ngài lâm bệnh nhưng không có dấu hiệu gì trầm trọng. Qua tháng mười Ngài họp các đệ tử lại và nói: “Thầy sẽ ra đi, sứ mạng của Thầy ở đời nầy đã xong”. Các đệ tử nghe vậy đều òa khóc. Ngài khuyên bảo: “Tại sao các con khóc ? Chư Phật còn nhập Niết bàn, Thầy cũng vậy, đến đi rõ ràng, về có nơi chốn, xin đừng buồn rầu, hãy cố gắng tinh tiến hơn lên”.
Tháng 11 năm ấy, mấy ngày trước khi viên tịch, Ngài ngồi dậy tự tay viết bài kệ:
“Thất thập dư niên thế giới trung,
Không không sắc sắc diệc dung thông;
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý,
Hà tất bôn man vấn Tổ Tông.”
Nghĩa: “Ngoài bảy mươi năm trong thế giới,
Không không sắc sắc thảy dung thông;
Ngày nay nguyện mãn về quê cũ,
Nào phải ân cần hỏi Tổ Tông ?”
Viết xong bài kệ, Ngài lại bảo đệ tử: “Các con xem này, Thầy đến với cõi đời thật giản dị biết bao nhiêu; Thầy sẽ ra đi trọn vẹn. Mai sau các con hãy áp dụng thực hành Thánh hạnh, luôn nghĩ đến vô thường mau chóng, siêng học Bát-nhã, xin hãy cố gắng chớ quên lời thầy”.
Ngưỡng bạch Giác linh Đại lão Tổ sư !
Giờ đây, trước đỉnh trầm tỏa ngát hương từ, đàn hậu bối chúng con hiệp tụ về đây, ôn lại đời Ngài là để học đòi đạo hạnh cao khiết, đức nhẫn nan suy, mà bỏ qua những nghiệp chướng duyên sâu, u minh tăm tối mong có ngày sẽ sáng tõ như vầng nhật nguyệt, để kế thừa Tổ đạo luôn được trường lưu.
Hồi tưởng lại gần ba trăm năm trước, đây là chốn rừng sâu núi thẳm, chân người tuyệt dấu, sơn lam chướng khí, thú dữ vây quanh, bao mối hiểm nguy thường xuyên đe dọa. Chúng con liên tưởng về những đêm đông giá rét mà Ngài đã trải qua ròng rã nhiều năm dài, những đói lạnh làm sao tránh khỏi khi thiền sàng chỉ là bông cây thảm cỏ, rong xanh đáy hồ đã góp phần duy trì mạng mạch sắc thân. Độc cư ở giữa chốn u tịch hoang vu, một tiếng xào xạc cũng làm lạnh người rợn gáy. Thế nhưng tất cả đói lạnh hiểm nguy, sợ sệt đã lùi bước trước chí nguyện siêu phàm của Ngài.
Hơn hai thế kỷ rưỡi trôi qua, sau khi Ngài nhập diệt, nhưng chúng sanh vẫn còn nhiều nghiệp chướng sâu dày và lại còn có chiều hướng suy thoái mê lầm hơn thế nữa. Vì vậy chúng con xin nguyện nỗ lực hơn, tiếp bước theo chân Ngài để mong hưng phát đạo tâm lợi đạo ích đời.
Trong giờ phút linh thiêng thanh tịnh này, giữa không gian tỏa ngát hương trầm chúng con xin đoàn kết một lòng kiền thành đãnh lễ Giác linh Tổ sư, ngưỡng mong Ngài từ bi gia hộ phò trì cho chúng con tiếp bước sự nghiệp hoằng pháp độ sinh như sở nguyện của người con Phật.
Nam mô Lâm Tế Chánh tông tam thập ngũ thế húy thượng Thiệt hạ Diệu hiệu Liễu Quán Đại lão Tổ sư thùy từ chứng giám.
* * *
(Đọc tại Tháp Tổ Liễu Quán ngày 18 tháng 11 năm Nhâm Thìn tức ngày 30 tháng 12 năm 2012)
HT. Hải Ấn