Phật học » Chú - Sớ - Giải - Thuật ngữ
Kinh A-Di-Đà Sớ sao
 
Người ta có thể hỏi : Không kể tiểu thừa, riêng nội các kinh đại thừa cũng đã chất nhiều như núi, thế tại sao chỉ ca ngợi diệu dụng một kinh A-Di-Đà này ?

Trả lời :

Trong kinh tạng tuy có đầy đủ nghĩa, nhưng chưa có kinh nào vừa rõ ràng vừa giản dị như kinh này. Nói một cách xứng đáng, nói một cách đúng đắn thì chẳng kinh điển đại thừa nào không viên đốn. Nhưng về lắng đục khơi trong, trở nghịch hướng thuận thì các kinh chưa bày rõ phương tiện. Các pháp môn khác, có pháp môn quá rộng khó hành trì, có pháp môn thì sâu xa không thực hành được. Ở đây, chỉ một lời danh hiệu liền nhập vào nhất tâm, được vãng sanh, thành Phật liền. Ngay phương tiện thành viên đốn. Thần công thắng lực như vậy thì không qui diệu dụng vào kinh này, còn qui vào kinh nào nữa ?

Lại nữa, đoạn trước nói về tính đục, đoạn này nói lìa cấu uế được thanh tịnh, cho đến nói về tính tịnh chướng hết v.v… hỗ tương dung thông bất nhị, như kinh giáo đã dạy.

Như trên đã nói, kinh này có đầy đủ công đức không thể nghĩ bàn, nên vì đó Phật nói kinh.
Trước, có nghĩa là tạm chứ không phải rốt ráo.

Ba thừa, thật sự thì thừa vốn không có ba, phương tiện nên nói ba, tức thanh văn thừa, duyên giác thừa và bồ tát thừa.

Sau, là đối lại với trước, thật đối lại với quyền. Nghĩa là đức Thế Tôn khi mới thành chính giác, liền diễn thuyết Đại Hoa Nghiêm. Nhưng giáo nghĩa đại thừa khó đầu hợp căn trí chúng sinh, do đó nói pháp ba thừa, rồi sau mới đem quyền về thật mà trao cho pháp đại thừa. Cho nên nói ban đều của báu là vậy. Đó là nét lớn của sự phân bố một đời thuyết giáo của Như Lai, mà trong đó lại giúp cho 1 pháp môn niệm Phật. Đối với pháp môn này, bất luận là người có căn cơ lớn hay nhỏ, hễ niệm Phật là được vãng sinh. Và cũng không đợi căn cơ thuần thục mới đem về thật, hễ vãng sinh là được không thoái chuyển. Ví như lối cất nhắc quan chức không theo thứ bậc, hay thứ tự tập ấm. Ban ơn không theo cách bình thường gọi là đặc ân. Đặc ân còn bao hàm 2 nghĩa : 1 là pháp niệm Phật là một đặc ân, 2 là pháp trì danh lại là đặc ân trong đặc ân.

Luận chung về công đức Tịnh Độ :

Nguyện nào nguyện phổ độ chúng sinh.
Quán nào quán chủ vào tâm diệu.

Đoạn trên ca ngợi sự thù thắng của pháp môn Tịnh Độ. Đoạn này trước hết nêu các kinh, sau đem so sánh với kinh này để thấy kinh này thù thắng hơn. Nguyện môn và quán pháp được trình bày đầy đủ trong 2 kinh. Một kinh nói từ lời nguyện thứ nhất đến lời nguyện cuối cùng, không nguyện nào không nhằm thâu nhiếp hết chúng sinh đồng sinh Tịnh Độ, một kinh cho thấy từ phép quán thứ nhất đến phép quán cuối cùng, tất cả đều là quán không, quán giả và quán trung đạo để đưa đến cái nhất tâm đầy đủ trọn vẹn. Rồi lại từ nhất tâm này phát sinh đại nguyện mà thành chính giác. Nghĩa là đem bản nguyện trở lại độ chúng sinh về với nhất tâm này. Pháp môn Tịnh Độ ở hai kinh đại ý trình bày như thế.
 

Xem tiếp file đính kèm

KINH  A  DI  ĐÀ  SỚ  SAO
Sa-môn Châu Hoằng thuyết
 

Tải về: kinhadida-sosao.doc
NGUYÊN HỒNG dịch, giải

Trang chủ   |   Tổ đình Từ Đàm   |   Tin tức - Sự kiện   |   Tìm kiếm   |   Liên hệ   |   Sơ đồ trang   |   Hướng dẫn gởi bài